Lao động và lao động có chuyên môn

Lao động có thể được nghiên cứu và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Ngành xã hội học quan tâm nghiên cứu lao động với tư cách là một hiện tượng xã hội nảy sinh, biến đổi và phát triển trong bối cảnh xã hội.Theo đó, lao động là một hành động xã hội có cấu trúc gồm các thành phần như: mục đích của lao động, đối tượng lao động, phương tiện lao động, điều kiện lao động, chủ thể lao động và xu hướng lao động.

Khác với ngành xã hội học, kinh tế học dù là kinh tế học hiện đại hay kinh tế chính trị cổ điển, kinh tế chính trị Mác – Lênin đều nghiên cứu lao động như là một nhân tố quan trọng của sản xuất, có người bán (người lao động) và có người mua (doanh nghiệp, tổ chức). Khi xem xét lao động như là nhân tố của quá trình sản xuất, có thể thấy rằng lao động được nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, hiểu theo nghĩa chung nhất thì lao động là hoạt động của con người, tạo ra của cải vật chất, tạo ra giá trị tinh thần cho cá nhân và xã hội, đó là dạng hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người.

Theo nghĩa khác, lao động là cách gọi tắt để chỉ người lao động, những người tạo ra và cung cấp dịch vụ lao động. Đó chính là các cá nhân, nhóm người bằng sự nỗ lực về thể chất và tinh thần gắn kết các yếu tố của sản xuất thành một quá trình sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân và xã hội. Đó là chủ thể nắm giữ sức lao động, một nhân tố của sức sản xuất.

Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án này, tác giả sử dụng khái niệm lao động với nghĩa: đó là những người lao động, người tạo ra và cung cấp các dịch vụ lao động.

Lao động có chuyên môn là lao động có các kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội và hành vi phù hợp với ngành nghề cụ thể. Trong đó, kỹ năng kỹ thuật được hiểu là khả năng làm việc thực tế của người lao động theo yêu cầu công việc. Kỹ năng về hành vi là khả năng tuân thủ nội quy lao động, khả năng làm việc nhóm, khả năng giải quyết vấn đề… Những kiến thức và kỹ năng sẽ giúp người lao động giải quyết những yêu cầu công việc và hòa nhập với môi trường làm việc.

Tùy vào mục đích khác nhau, các nhà nghiên cứu, nhà tuyển dụng hay người làm công tác giáo dục đào tạo và nhà quản lý sẽ xây dựng các bộ tiêu chí khác nhau cho việc đào tạo, đánh giá, xác định khả năng chuyên môn của người lao động. Tuy tiêu chí cho từng ngành nghề lĩnh vực khác nhau, nhưng cơ sở chung để xác định lao động có chuyên môn vẫn được xây dựng dựa trên ba nhóm tiêu chí cơ bản sau:

Thứ nhất, nhóm tiêu chí đánh giá kỹ năng kỹ thuật.

Kỹ năng kỹ thuật là năng lực cụ thể cho từng vai trò hay vị trí công việc, những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ công việc trong một môi trường làm việc cụ thể. Kỹ năng kỹ thuật được phát triển thông qua đào tạo trong các cơ sở giáo dục đào tạo hoặc trong quá trình làm việc.

Thứ hai, nhóm tiêu chí đánh giá kỹ năng nhận thức.

Nhóm tiêu chí này bao gồm kỹ năng sử dụng tư duy logic, trực giác, tư duy phê phán, cũng như tư duy giải quyết vấn đề thông qua các kiến thức đã có. Các kỹ năng này bao gồm khả năng đọc, viết và tính toán. Nhà tuyển dụng cũng quan tâm đến “năng lực hiểu được các ý tưởng phức tạp, khả năng học hỏi kinh nghiệm, phân tích vấn đề sử dụng các quy trình tư duy lô-gíc”. Các kỹ năng này thường được đánh giá thông qua các bài kiểm tra, thông qua phỏng vấn.

Thứ ba, nhóm tiêu chí đánh giá về các kỹ năng xã hội và hành vi.

Nhà tuyển dụng ngoài việc quan tâm đến các kỹ năng kỹ thuật như sự khéo léo để sử dụng các công cụ, thiết bị phức tạp cho đến các kiến thức liên quan đến công việc thì họ rất quan tâm đến tố chất cá nhân, những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả làm việc của người lao động như: “cởi mở để trải nghiệm, tận tâm, hướng ngoại, biết cách tán đồng và sự ổn định về cảm xúc, khả năng kiểm soát bản thân, kiên trì, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tương tác cá nhân. Nhiều nhà tuyển dụng đặt ưu tiên hàng đầu cho các tiêu chí như thái độ làm việc; ý thức tuân theo hợp đồng lao động”; khả năng ngôn ngữ (trong đó gồm tiếng Anh hoặc có thể là tiếng của nước sở tại) và những kỹ năng mềm khác như làm việc theo nhóm, hiểu về văn hóa của nước sở tại. Ví dụ: “Thái Lan đã đặt rào cản “kỹ thuật” đối với lao động khi nhập khẩu vào quốc gia này như sau: lao động muốn hành nghề y phải nói được tiếng Thái”