Lịch sử những tư tưởng triết học chủ nghĩa duy vật trước Mác về mâu thuẫn

Trải qua quá trình phát triển của những hình thái khác nhau và các quá trình phát triển cao của các tư tưởng triết học nhân loại các quan niệm về mâu thuẫn khác nhau cũng thay đổi. Mỗi thời đại , mỗi trường phái lại có những lý giải khác nhau về mâu thuẫn , về các mặt đối lập , vì triết học luôn phát sinh từ những bối cảnh lịch sử nhất định . Thứ nhất là triết học thời cổ đại mà điển hình là ba nền triết học lớn đó là Trung Hoa , Hy Lạp và ấn Độ .
Triết học Trung Hoa đã xuất hiện rất lâu vào cuối thế kỷ thứ II trước công nguyên. Tuy nhiên , phải đến cuối thời Xuân thu _ Chién quốc , các hệ thống triết học lớn của Trung Quốc mới xuất hiện . Những quan điểm biện chứng về mâu thuẫn thời kỳ này xuất hiện tuy còn sơ khai. Ví dụ như trường phái Âm – Dương . phái Âm – Dương nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng . Trái lại tất cả bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập gọi là sự thống nhất Âm – Dương. Quy luật nay thừa nhận mọi thực tại trên tinh thần biện chứng là trong cái mặt đối lập kia – ít nhất cũng ở trạng thái tiềm năng sinh thành. Triết học ấn Độ thì đưa ra phạm trù “vô ngả”, “vô thường”(của trương phái Phật Quốc ). “Một tồn tại “ nào đó chẳng phải là nó mà là “tổng hợp”, “hội họp” của những cái không phảI là nó mà nhờ hội đủ nhân – duyên . Không có tồn tại nào độc lập tuyệt đối với tồn tại khác Nhưng đã như vậy thì tất yếu phải đi đến một khẳng định về lẽ vô thường . Vô thường là chẳng “thường hằng” , “thường hằng “ là cái bất biến, chẳng bất biến là biến động , biến tức là biến động . Có thể nói , cùng với sự phát triển của các hình thức kinh tế – xã hội các tư tưởng về mâu thuẫn cũng ngày càng rõ nét.

Hêraclit – nhà triết học lớn nhất của Hy Lạp cổ đại ở thời kỳ đầu của nó thì phỏng đoán rằng: mâu thuẫn tồn tại trong mọi sự vật của thế giới . Theo ông , các mặt đối lập gắn bó , quy định , ràng buộc với nhau. Heraclit còn khẳng định vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh của các lực lượng đối lập, nhờ vậy vũ trụ tồn tại và vận động . Vì thế đấu tranh là “cha đẻ của tất cả , là ông hoàng của tất cả”.
Trải qua hơn một ngàn năm đêm dài trung cổ , nền triết học thời kỳ này chủ yếu là triết học linh viện tập trung vào cái chung và cái riêng . Sang đến triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại cùng với những thành tựu về khoa học tự nhiên thì sự đấu tranh giữa triết học duy tâm và triết học duy vật cũng diễn ra hết sức gay gắt . Nhưng các quan đIểm thời kỳ này vẫn rơi nhiều vào siêu hình , máy móc .Tới triết học cổ điển Đức mới thực sự bao hàm những tư tưởng triết học tiến bộ . Cách mạng và khoa học . Triết học cổ diển Đức đã đạt được trình độ khái quát và tư duy trừu tượng rất cao với những hệ thống kết cấu chặt chẽ , thể hiện một trình độ tư duy tài biện thâm cao vượt xa tính trực quan , siêu hình của nền triết học Anh – Pháp ở thế kỷ XVII – XVIII, do vậy các tư tưởng triết học về mâu thuẫn đã có những bước tiến đáng kể Đại biểu đặc trưng của triết học cổ điển Đức là Hêghen .