Lịch sử quan hệ và chính sách của Trung Quốc đối với Châu Phi

Hội nghị Á – Phi của các nước thuộc phong trào không liên kết vào năm  1955, tổ chức tại Indonesia. Tại Hội nghị này, 29 quốc gia ở Châu Á, Châu Phi, Trung Đông đã họp mặt để lên án chủ nghĩa thực dân, bài trừ chủ nghĩa phân  biệt chủng tộc và một số vấn đề khác. Trung Quốc và 6 nước Châu Phi bao gồm Ai Cập, Ghana, Ethiopia, Liberia, Libya và Sudan đã tham dự Hội nghị này.

Sau Hội nghị Bandung, Trung Quốc đã tăng cường viện trợ và hợp tác kinh tế với một số nước Châu Phi, cụ thể Trung Quốc đã ký hiệp ước hợp tác kinh tế và kỹ thuật với Guinea năm 1960, cung cấp một khoản vay lãi suất ưu đãi trị giá 20 triệu USD cho Ghana, ký hiệp ước hợp tác kinh tếvà kỹ thuật với Algeria và cung cấp cho Algeria khoản vay ưu đãi 50 triệu USD vào cuối thập niên 1950, đồng thời thiết lập quan hệ với các nước khác như Morocco, Tunisia [45]. Ngay cả trong thời kỳ nổ ra Cách mạng văn hóa (1969-1976), Trung Quốc vẫn dành những khoản tiền lớn để hỗ trợ các nước Châu Phi đấu tranh giành độc lập và tự do dân tộc. Sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Châu Phi trong thời kỳ này chủ yếu thông qua một số kênh như viện trợ, cho vay dài hạn với lãi suất thấp, đào tạo và trao đổi kỹ sư, chuyên gia. So với một số nước như Mỹ và phương Tây, mối quan hệ với Trung Quốc được các nước Châu Phi ưa chuộng hơn bởi mối quan hệ này chủ yếu nhấn mạnh tinh thần bè bạn, giúp đỡ lẫn nhau. Kể từ hội nghị Bandung đến cuối thập niên 1970, Trung Quốc đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với 40 nước Châu Phi, điển hình là các nước Ai Cập (1956), Yemen (1956), Algeria (1958), Sudan (1959), Cộng hòa Guinea (1959), Ghana (1960), Uganda (1962), Tanzania (1964), Nigeria (1971), Cameroon (1971), Mozambique (1975)…

Trong thập niên 1980, Trung Quốc tiến hành cải cách và mở cửa nền kinh tế. Do huy động tập trung mọi nguồn lực để cải cách kinh tế và hội nhập thế giới, mối quan tâm của Trung Quốc đối với các nước Châu Phi bị giảm sút. Trong giai đoạn này, Trung Quốc nỗ lực tái xây dựng các mối quan hệ với các nước phát triển, chủ yếu là Mỹ và Châu Âu. Chính vì vậy, trong thập niên 1980, Trung Quốc chủ yếu nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ ủng hộ của các nước Châu Phi đối với tiến trình cải cách kinh tế của Trung Quốc. Trong thập niên 1980, Trung Quốc chỉ tiến hành thiết lập mối quan hệ ngoại giao với 3 nước Châu Phi bao gồm Zimbabwe (1980), Lesotho (1983), Angola (1983) dựa trên 4 nguyên tắc : bình đẳng và cùng có lợi, lợi ích thiết thực, đa dạng hóa quan hệ và phát triển kinh tế.

Sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, trong lúc Trung Quốc đứng trước lệnh trừng phạt của phương Tây thì Botswana, Lesotho, Zimbabwe, Angola, Zambia và Mozambique đã bày tỏ thái độ tích cực bằng việc mời bộ trưởng bộ ngoại giao Trung Quốc sang thăm vào tháng 8/1989. Sau sự kiện Thiên An Môn, các nước châu Phi cũng là những nước đầu tiên cử người đứng đầu và bộ trưởng đến thăm Trung Quốc. Đây là lý do kể từ năm 1991, điểm đến đầu tiên trong năm mới của các bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc thường là Châu Phi.

Sau sự kiện Thiên An Môn và sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, mối quan hệ Trung Quốc với Châu Phi bước vào giai đoạn mới, được tái khởi động với nhiều hình thức khác nhau, trong đó nhấn mạnh vào việc tăng cường hợp tác kinh tế. Động lực chính cho việc chuyển đổi hình thức hợp tác này là do kinh tế Trung Quốc trong thập niên 1990 bắt đầu cất cánh, tăng trưởng nóng, rất cần nhiều nguồn tài nguyên và năng lượng để phát triển, trong khi nguồn lực trong nước không đủ nhu cầu. Từ năm 1993, Trung Quốc bắt đầu phải nhập khẩu dầu mỏ. Năm 2006, Trung Quốc đã phải tăng nhập khẩu sản lượng than đá. Trong những năm đầu thập niên 2000, Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu lớn nhất trên thế giới các sản phẩm bê tông, đồng, nhôm, sắt, thép và hầu hết các nguyên, nhiên liệu khác. Châu Phi rất giàu có về tài nguyên để phục vụ nhu cầu khổng lồ của Trung Quốc. Hơn nữa, từ đầu thập niên 1990, Châu Phi có nhiều chuyển biến về chính trị và kinh tế. Nhiều nước Châu Phi đã tiến hành dàn xếp xung đột để phát triển kinh tế, tiến hành cải cách kinh tế và mở rộng cửa với bên ngoài. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu khiến quan hệ Trung Quốc với Châu Phi phát triển mạnh sau Chiến tranh Lạnh. Tuy không hy vọng một nước Châu Phi nào đó có thể ganh đua với thành công của các con hổ Châu Á, nhưng những thành tựu mà Châu Phi giành được sau Chiến tranh lạnh đã làm cho người Trung Quốc thay đổi quan niệm về lục địa này rằng: Châu Phi đã vượt qua thời kỳ hỗn loạn, phần lớn các nước có vai trò ngày càng quan trọng và muốn thiết lập quan hệ toàn diện với Châu Phi khi bước vào thế kỷ XXI. Tạp chí Thế giới tri thức của Trung Quốc số 11 năm 1998 ví Châu Phi là “vùng đất trinh nữ cuối cùng” trên thế giới chưa được khai phá, và kêu gọi các nhà đầu tư Trung Quốc phải nắm bắt thời cơ tiến vào Châu Phi. Theo Báo cáo của Ngân hàng phát triển Châu Phi năm 2011, “Trung Quốc đang là đối tác thương mại lớn, có nguồn đầu tư tài chính khổng lồ, là một kênh bổ sung quan trọng cho các đối tác phát triển truyền thống. Trung Quốc đang đầu tư ồ ạt vào cơ sở hạ tầng, giúp nhiều vùng nghèo đói của Châu Phi thoát khỏi cảnh ngăn sông cấm chợ và cải thiện tính cạnh tranh”.

Từ thập kỷ 1990 đến nay, Trung Quốc tiếp tục thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với các nước châu Phi, trong đó có Namibia (1990), Eritrea (1993), Cộng hòa Nam Phi (1998), Malawi (2007). Tính đến nay, Trung Quốc đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 51/54 nước Châu Phi, gần nhất là việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Nam Sudan vào năm 2011.

Kể từ giữa những năm 1990, đặc biệt sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, quan điểm “sử dụng cả hai thị trường và nguồn lực trong nước và quốc tế” bắt đầu thắng thế trong quan hệ kinh tế đối ngoại của Trung Quốc. Thay đổi này đã dẫn đến sự bùng nổ trong hợp tác kinh tế quốc tế của Trung Quốc và chiến lược “Đi ra ngoài” ra đời vào năm 1996 sau khi Chủ tịch Giang Trạch Dân thăm sáu quốc gia Châu Phi. Chiến lược này sau đó đã được Bộ Chính trị Trung Quốc xác nhận là một chiến lược quốc gia vào năm 2000.

Ngoại giao kinh tế đặc biệt trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Hồ Cẩm Đào (2002-2012). Chính sách ngoại giao kinh tế của Trung Quốc nhấn mạnh việc phát triển thương mại, đầu tư, coi đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu của các chính sách và hoạt động ngoại giao; đồng thời sử dụng hoạt động kinh tế để hỗ trợ các mục tiêu ngoại giao củaTrung Quốc. Trong Chiến lược Hướng ra ngoài đối với Châu Phi, một trong những mục tiêu kinh tế quan trọng của Trung Quốc là nhằm đảm bảo nguồn cung nguyên liệu, thị trường và an ninh năng lượng, trong đó có việc nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn dầu lửa từ Trung Đông. Việc triển khai chiến lược này của Trung Quốc tại Châu Phi về cơ bản có thể chia ra làm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là từ năm 2000 đến năm 2012, khi Trung Quốc bắt đầu tuyên bố điều chỉnh phương thức phát triển, chuyển sang một mô hình tăng trưởng mới; giai đoạn thứ hai là từ sau năm 2012.

Chính sách của Trung Quốc đối với khu vực này được cụ thể hóa qua các cấp độ song phương cũng như đa phương, ở cấp khu vực cũng như quốc tế. Năm 2000, Diễn đàn hợp tác Trung Quốc – Châu Phi (FOCAC) lần đầu tiên được thành lập, đưa ra một cơ chế hữu hiệu cho đối thoại tập thể và thúc đẩy đầu tư, thương mại giữa Trung Quốc và các nước Châu Phi. Kể từ đó, FOCAC đã trải qua 6 lần tổ chức, với những kết quả đạt được rất tích cực. FOCAC lần thứ 7 sẽ được tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 9/2018.

Mối quan hệ hợp tác kinh tế của Trung Quốc với Châu Phi còn được thúc đẩy thông qua các diễn đàn hợp tác kinh tế như Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và nhóm G77 và nhiều cơ chế đa phương khác. Ví dụ, tháng 7 năm 2003, Hội nghị các tổ chức khu vực Châu Á và các tiểu vùng Châu Phi (AASROC) họp tại Bandung, Indonesia đã ký quyết định thành lập chương trình Đối tác chiến lược mới thúc đẩy hợp tác Nam – Nam. Tháng 12/2003, Hội nghị cấp cao hợp tác Nam – Nam được tổ chúc ở Marrakech (Morocco) ra Tuyên bố Marrakech về hợp tác Nam – Nam và thực hiện Hiệp định khung về Hợp tác Nam – Nam. Trong tuyên bố Marrakech, các nước thành viên sẽ cam kết tăng cường hợp tác trong một số lĩnh vực như thương mại, công nghệ, sức khỏe, giáo dục, quản lý nợ. Nhiều nước Châu Phi và Trung Quốc đã tham gia và ký kết Tuyên bố này. Tại Hội nghị thượng đỉnh phương Nam lần thứ hai tổ chức tại Doha (Qatar) năm 2005, nhóm G77 và Trung Quốc đã ra Tuyên bố Doha và chương trình hành động Doha, cam kết thúc đẩy hợp tác Nam – Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và hợp tác kinh tế, tạo điều kiện hạn chế những trở ngại trong thương mại và đầu tư Nam – Nam, thúc đẩy quan hệ Nam – Nam dựa theo lợi thế địa kinh tế trong mối quan hệ kinh tế quốc tế.

Tại Hội nghị Bandung lần thứ hai (2005), các nhà lãnh đạo Châu Á và Châu Phi nhấn mạnh lại 10 nguyên tắc hợp tác trong hợp tác Á – Phi đã có từ Hội nghị Bandung năm 1955, đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai châu lục Á – Phi. Trong hội nghị này, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và các nguyên thủ các nước Châu Á, Châu Phi đã ký kết Tuyên bố về đối tác chiến lược mới Châu Á – Châu Phi. Năm 2015, Hội nghị Cấp cao Á –Phi được tổ chức nhằm kỷ niệm 60 năm Hội nghị Bandung lần đầu tiên, 10 năm quan hệ đối tác chiến lược mới Á –Phi được tổ chức tại Indonesia, với sự tham dự của 91 đoàn cấp cao các nước Á –Phi (47 nước Châu Á, 44 nước Châu Phi), trong đó có 23 nguyên thủ quốc gia và thủ tướng, 7 phó tổng thống, 6 phó thủ tướng và trên 30 bộ trưởng. Trong hội nghị này, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhấn mạnh đến một số vấn đề hợp tác giữa Châu Á và Châu Phi, trong đó có lĩnh vực thương mại, đầu tư, xóa đói giảm nghèo, chống khủng bố và bạo động chính trị.

Nhằm thiết lập các cơ chế hợp tác song phương, Trung Quốc đã tích cực trao đổi các chuyến thăm và đối thoại giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc với các nước Châu Phi, nhằm tăng cường sự phối hợp và làm sâu sắc thêm mối quan hệ hữu nghị, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau. Đặc biệt, trước khi thực hiện văn kiện Chính sách Châu Phi của Trung Quốc (2006), vào tháng 4 năm 2005 chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã viếng thăm 3 nước quan trọng ở Châu Phi là Ai Cập, Algeria và Gabon. Trong 6 tháng đầu năm 2006, Trung Quốc tiếp tục có các chuyến viếng thăm cấp cao đến Châu Phi, tổng cộng là 15 nước, được thế giới đánh giá là chuyến đi “bội thu” của Trung Quốc ở Châu Phi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng thường xuyên viếng thăm châu Phi. Năm 2013 chủ tịch đương nhiệm của Trung Quốc là Tập Cận Bình có chuyến thăm 3 nước Châu Phi là Tanzania,  Nam Phi, Congo; năm 2015 ông lại tiếp tục đến châu Phi để tham dự Diễn đàn FOCAC lần thứ 6.

Ngoài các chuyến thăm cấp cao, Trung Quốc còn tổ chức các diễn đàn hợp tác với một số nước Châu Phi hàng năm, đồng thời mở rộng sự hợp tác trao đổi giữa các cơ quan lập pháp, giữa các đảng chính trị, giữa các chính quyền địa phương. Trung Quốc còn thành lập và hoàn thiện các cơ chế tham vấn như Ủy ban song phương giữa Trung Quốc và từng nước Châu Phi, tham vấn chính trị giữa các bộ ngoại giao, các Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế và thương mại, những Ủy ban hỗn hợp khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy việc thể chế hóa đối thoại và thống nhất với nhau bằng cách thông qua các công thức linh hoạt và thực tế hơn. Cùng với FOCAC, Trung Quốc và các nước Châu Phi đã ký kết ít nhất 45 Hiệp định hợp tác kinh tế và kỹ thuật song phương tính đến năm 2013, trong đó nhấn mạnh quan hệ hợp tác bình đẳng và cùng có lợi.

Năm 2006, Trung Quốc đưa ra “Chính sách Châu Phi của Trung Quốc”, nhấn mạnh “kiên định thực hiện mối quan hệ truyền thống Trung Quốc và Châu Phi, theo đuổi các lợi ích cơ bản của cả người Trung Quốc và người Châu Phi, thiết lập và phát triển một mối quan hệ đối tác kiểu mới với Châu Phi, đề cao sự bình đẳng chính trị và sự tin tưởng lẫn nhau, hợp tác kinh tế và trao đổi văn hóa trên cơ sở cùng có lợi” [55]. Văn kiện này gồm 6 chương nội dung, cụ thể hóa các hoạt động hợp tác giữa hai bên trong từng lĩnh vực và được coi là một bước đột phá trong lịch sử quan hệ của Trung Quốc với Châu Phi. Chính sách Châu Phi rất chi tiết về quan hệ Trung Quốc–Châu Phi trong nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa, giáo dục, xã hội và an ninh với điểm nhấn trong đó vẫn là kinh tế. Nguyên tắc chung trong Chính sách Châu Phi của Trung Quốc là:

  • Trung thực, bạn bè và bình đẳng (trên phương diện chính trị).
  • Cùng có lợi, trên cơ sở có đi có lại, vì sự thịnh vượng chung của cả hai phía (trên phương diện kinh tế).
  • Hỗ trợ lẫn nhau và hợp tác chặt chẽ (trên phương diện quốc tế).
  • Học hỏi lẫn nhau và tìm kiếm sự phát triển chung (trên phương diện văn hóa và xã hội.

Năm 2006, Trung Quốc còn ban hành thêm “9 nguyên tắc khuyến khích và tiêu chuẩn hóa các đầu tư của các doanh nghiệp [Trung Quốc] ở nước ngoài”, nhằm tránh sự lộn xộn trong hoạt động của các công ty Trung Quốc ở Châu Phi (và cũng để đáp lại các cáo buộc về “chủ nghĩa thực dân mới”). Chín nguyên tắc này yêu cầu các doanh nghiệp (chủ yếu là quốc doanh) tuân thủ luật pháp nước sở tại, đấu thầu minh bạch và công bằng, bảo vệ quyền lợi của lao động địa phương, bảo vệ môi trường, và thực hiện trách nhiệm xã hội. Chính sách này nhận được sự tán đồng của nhiều nước Châu Phi vốn đã trải qua nhiều thập kỷ dưới sự khai thác và bóc lột của phương Tây.

Với phương châm “ngoại giao đi trước, doanh nghiệp tiếp bước”, thông qua các phương thức ngoại giao chính trị, viện trợ kinh tế, mua bán thiết bị quân sự, Trung Quốc đã dần tạo ra các mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa-xã hội với các nước Châu Phi. Trung Quốc áp dụng những chính sách hỗ trợ tích cực cho các công ty của họ khi triển khai các hoạt động đầu tư tại Châu Phi, nhất là khi các công ty này tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, khoáng sản, góp phần tăng cường tiêu thụ hàng hoá và nâng cao sức cạnh tranh của công ty Trung Quốc. Những sự hỗ trợ đó được thực hiện thông qua  bốn loại ưu đãi như ưu đãi thuế đặc biệt và thuế thông thường, ưu đãi tín dụng, ưu đãi về tỷ giá hối đoái, và ưu đãi trong xuất nhập khẩu. Cách làm của Trung Quốc là tìm kiếm các đối tác phù hợp, đào tạo nguồn nhân lực địa phương theo yêu cầu của Trung Quốc, tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương, yêu cầu họ thực hiện những cam kết nhằm nhanh chóng phê duyệt và thực thi các dự án đầu tư của Trung Quốc. Tuy nhiên, các công ty Trung Quốc thường không cung cấp và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, mà chủ yếu cung cấp những công nghệ lạc hậu và giải thích đó là “công nghệ phù hợp” đối với Châu Phi.

Bên cạnh hoạt động thương mại và đầu tư, viện trợ và giao lưu văn hóa- giáo dục cũng là hai kênh giúp Trung Quốc mở rộng quan hệ với châu Phi và tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế của Trung Quốc với châu lục này.

Từ năm 2000 đến nay Trung Quốc đã viện trợ thông qua hình thức cung cấp tín dụng và cho vay để phát triển nhiều dự án kinh tế-xã hội tại hầu hết các nước Châu Phi với trị giá khoảng 100 tỷ USD. Điều kiện đặt ra là các doanh nghiệp Trung Quốc phải được lựa chọn làm đối tác thực hiện hợp đồng xây dựng, xuất khẩu hàng hoá, cung cấp trang thiết bị, vật liệu, công nghệ và dịch vụ của Trung Quốc để phục vụ dự án. Đối tác nhận viện trợ phải được Bộ Tài chính hoặc cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sở tại ủy quyền, phải được Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc thẩm định và công nhận, phải có khả năng tín dụng đáng tin cậy, trả được các khoản nợ gốc và lãi cùng các khoản phí liên quan theo các điều kiện do Trung Quốc đặt ra. Trung Quốc viện trợ cho các quốc gia Châu Phi dưới bốn hình thức chủ yếu là: viện trợ không hoàn lại; cho vay không lãi suất; vay ưu đãi; và xoá nợ. Trong bốn hình thức trên, phổ biến nhất là vay có ưu đãi nhằm sử dụng cho các lĩnh vực xã hội như y tế, bệnh viện, trường học, nhà ở, các cơ sở thể thao, hay trong lĩnh vực kinh tế bao gồm việc thực hiện các dự án về cơ sở hạ tầng như năng lượng, vận tải, viễn thông, còn trong lĩnh vực công nghiệp là chế tạo và khai thác mỏ.

Trong khi Mỹ và các nước phương Tây luôn đòi hỏi các điều kiện ràng buộc về kinh tế – chính trị khi thiết lập mối quan hệ với các nước Châu Phi, thì chính sách ngoại giao của Trung Quốc luôn nhấn mạnh phương thức hợp tác cùng có lợi giữa hai bên, đề cao nguyên tắc không can thiệp vào tình hình nội bộ của nhau, không áp đặt chế độ xã hội hay mô hình tư tưởng cho các nước Châu Phi mà Trung Quốc giúp đỡ. Chính nguyên tắc ngoại giao này đã khiến Trung Quốc giành được những lợi thế nhất định trong quan hệ ngoại giao với khu vực Châu Phi.

Quan hệ ngoại giao Trung Quốc với Châu Phi đến nay diễn ra ở cả cấp độ quốc gia và cấp độ thấp hơn như thành phố và tỉnh, không chỉ qua diễn dàn FOCAC mà còn qua các diễn đàn khu vực khác liên quan đến Châu Phi. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn “đối thoại chiến lược” với tổ chức Liên minh Châu Phi và góp quân cho lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở châu lục này. Với tư cách ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, Trung Quốc đã cố gắng tỏ ra luôn quan tâm đến và bảo vệ các nước Châu Phi, ủng hộ các đề xuất của các nước này về cải cách Liên hiệp quốc, sẵn sàng giúp đỡ một số nước Châu Phi trên các cuộc đối thoại ở các diễn đàn đa phương ở Liên hợp quốc và các diễn đàn đa phương khác. Trong các vấn đề quốc tế, Trung Quốc và các nước Châu Phi đã tăng cường hợp tác, trao đổi, phối hợp quan điểm về các vấn đề quan trọng của quốc tế, về các vấn đề lớn liên quan đến mỗi nước như chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, phẩm cách và nhân quyền.

Hợp tác giáo dục, văn hóa của Trung Quốc với Châu Phi bắt đầu từ cuối thập niên 1950 khi chính phủ Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với một số nước Châu Phi. Hợp tác giáo dục văn hóa trong thời kỳ đầu chủ yếu diễn ra theo hình thức tài trợ của chính phủ để trao đổi học giả và hỗ trợ đào tạo nghề. Trước năm 2000, chính phủ Trung Quốc đã tiến hành trao đổi sinh viên, giành nhiều suất học bổng cho sinh viên Châu Phi, cử giáo viên sang các nước Châu Phi phát triển dạy tiếng Trung Quốc. Những dự án hỗ trợ giáo dục này chủ yếu nhằm hỗ trợ các nước Châu Phi phát triển các môn học còn yếu, chủ yếu là bậc trung học và đại học. Chỉ đến khi FOCAC được tiến hành vào năm 2000, hợp tác của Trung Quốc trong những lĩnh vực giáo dục, văn hóa, ở Châu Phi mới thực sự phát triển. Tại FOCAC lần thứ 5 (năm 2012), Trung Quốc cùng các nước Châu Phi đã thiết lập một thỏa thuận nhằm thúc đẩy hợp tác hơn nữa về giáo dục. Sáng kiến hợp tác về giáo dục được phía Trung Quốc đề ra là theo Kế hoạch hợp tác 20+20, nghĩa là 20 cơ sở giáo dục bậc cao của Trung Quốc thiết lập quan hệ đối tác với 20 cơ sở giáo dục bậc cao ở 17 nước Châu Phi; đồng thời thành lập Viện nghiên cứu Khổng tử ở Châu Phi cho những người học tiếng Trung Quốc và trao đổi văn hóa Trung Quốc ở Châu Phi, tiếp tục phát triển mạnh trao đổi học giả, chuyên gia và hỗ trợ tài chính cho giáo dục bậc cao ở Châu Phi. Tại FOCAC lần thứ 6 diễn ra tại Nam Phi vào năm 2015, Trung Quốc đã tuyên bố một gói viện trợ cho châu Phi trị giá tới 60 tỷ USD. Ngoài giáo dục và văn hóa, Trung Quốc còn hợp tác với Châu Phi về truyền thông, cải cách hành chính, lãnh sự, môi trường, hỗ trợ nhân đạo và giảm nhẹ thiên tai…Trung Quốc đã xây dựng một trung tâm hội nghị cho Châu Phi và hỗ trợ để tăng cường khả năng hội nhập của các nước Châu Phi. Trung Quốc còn có 10 trung tâm, hiệp hội, viện có chất lượng cao để nghiên cứu về kinh tế, lịch sử, chính trị và văn hóa Châu Phi [21].

Trung Quốc duy trì và mở rộng các chương trình đào tạo chuyên gia, cấp học bổng cho sinh viên và trao đổi học thuật để tăng cường hiểu biết cũng như tạo tiền đề cho mối quan hệ của hai bên tiếp tục phát triển khi số người được đào tạo tại Trung Quốc quay trở lại đất nước sinh sống, làm việc. Số lượng học bổng và cam kết đào tạo nguồn nhân lực cho các quốc gia Châu Phi có xu hướng tăng hàng năm. Nhiều diễn đàn đối thoại được tổ chức với thành phần rộng rãi để quảng bá các giá trị văn hóa, xã hội, lịch sử truyền thống của Trung Quốc cũng như mối quan hệ có lịch sử lâu dài hàng ngàn năm giữa Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực. Các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật là một lĩnh vực truyền thống và có thế mạnh của Trung Quốc được duy trì và phát huy để quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của Trung Quốc đồng thời thẩm thấu văn hóa đến cộng đồng dân cư nhất là những nơi đã có một cộng đồng người Trung Quốc đáng kể sinh sống. Có một thực tế là người dân các nước Châu Phi hiểu biết về các quốc gia Hồi giáo và phương Tây nhiều hơn là về Trung Quốc do lịch sử mối quan hệ lâu đời với phương Tây và do thế mạnh áp đảo của hệ thống truyền thông phương Tây trong khu vực. Để cạnh tranh và quảng bá các giá trị văn hóa của mình Trung Quốc đã vận dụng các chính sách trên của phương Tây như: truyền thông qua mạng Internet, qua các kênh truyền hình của nhà nước hoặc được nhà nước tài trợ, qua việc hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoạt động tại Châu Phi.

Hợp tác an ninh, quân sự của Trung Quốc với Châu Phi trong thời gian gần đây đã phát triển mạnh mẽ. Trung Quốc sẵn sàng giúp đỡ Châu Phi, thậm chí đã có Hiệp định với Mozambique, Seychelles, sẽ trao đổi đoàn cấp cao, tiến hành hợp tác và trao đổi công nghệ, hỗ trợ và giúp Châu Phi huấn luyện quân sự. Ngoài ra, hai bên còn hợp tác giữ gìn hòa bình và giải quyết xung đột, hợp tác về pháp lý và cảnh sát, hợp tác trong những lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Trung Quốc đã thiết lập mối quan hệ hợp tác quân sự chặt chẽ với các nước Algeria, Angola, Ai Cập, Ghana, Nigeria, Nam Phi, Sudan, Tanzania, Uganda, Zambia and Zimbabwe [90]. Năm 2007, Trung Quốc tiến hành các chương trình hỗ trợ và đào tạo sĩ quan quân đội cho Angola, Burundi, Chad, Eritrea, Ethiopia, Guinea-Bissau, Mozambique và Sudan. Hoạt động hợp tác quân sự của Trung Quốc đã khiến hợp tác của Trung Quốc với châu lục đen trở nên toàn diện trên mọi khía cạnh, đem lại những ảnh hưởng không nhỏ (cả tích cực và tiêu cực) đối với các nước Châu Phi.

Nhìn chung, thông qua các cuộc viếng thăm lẫn nhau và các diễn đàn song phương, đa phương, Trung Quốc đã phát triển mối quan hệ toàn diện với Châu Phi. Các Hiệp định khung giữa Trung Quốc và Châu Phi được ký kết ngày càng nhiều, là cơ sở vững chắc đảm bảo cho các doanh nghiệp Trung Quốc tiếp cận thị trường và các nguồn tài nguyên của Châu Phi.

Trong quá trình cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Châu Phi, Trung Quốc không đóng vai trò là một nước lớn có trách nhiệm và nghĩa vụ dẫn dắt Châu Phi – điều mà Pháp và Mỹ đã từng thất bại, mà tự nhận mình là một nước đang phát triển giống như các nước Châu Phi. Trên con đường phát triển nhằm khẳng định vị thế cường quốc thế giới về cả kinh tế, chính trị và quân sự, Trung Quốc đang thực hiện một chính sách khôn ngoan, bền bỉ, hiệu quả, dựa trên sức mạnh của đồng tiền và các chính sách ngoại giao mềm mỏng đối với các tổ chức khu vực cũng như từng quốc gia…vừa nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các chính phủ Châu Phi, vừa khai thác các lợi ích toàn diện ở châu lục này. Song ngay cả khi Trung Quốc luôn tuyên truyền về mối quan hệ “bình đẳng đôi bên cùng có lợi” với Châu Phi, các nhà phân tích vẫn luôn nghi ngờ về thực chất của điều này. Sức mạnh của các khoản “viện trợ” cũng như chính sách “ngoại giao mềm” có thể giúp Trung Quốc gây ảnh hưởng mà không cần can thiệp. Nhìn dưới góc độ này, Trung Quốc đang âm thầm từ bỏ chính sách “không can thiệp” trước đây và thay vào đó là chính sách “can thiệp sáng tạo” hay chính sách “gây ảnh hưởng mà không cần can thiệp”. Ngày càng nhiều người cho rằng, thông qua những khoản viện trợ và hoạt động bòn rút tài nguyên, Trung Quốc đang thực hiện một thứ “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” ở Châu Phi.

Trong giai đoạn hiện nay, quan hệ kinh tế của Trung Quốc với Châu Phi đang chứng kiến nhiều thay đổi. Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008-2009 đã kéo tụt kim ngạch thương mại của Mỹ và EU với Châu Phi, tạo điều kiện cho Trung Quốc đẩy mạnh phát triển quan hệ thương mại với khu vực này. Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc cũng bắt đầu suy giảm sau một thời gian tăng trưởng nóng. Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi phương thức tăng trưởng từ chỗ dựa nhiều vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa nhiều hơn vào công nghệ và lao động có tay nghề. Trong bối cảnh đó, Chiến lược “Đi ra ngoài” thế hệ mới của Trung Quốc đối với Châu Phi dựa trên hai mối quan tâm trụ cột :

Thứ nhất, trong quan hệ kinh tế, Trung Quốc rất cần Châu Phi để thực hiện những thay đổi chính sách mạnh mẽ: chuyển từ việc chỉ tiếp nhận đầu tư nước ngoài sang tích cực đầu tư ra thế giới; đồng thời tiến hành chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước bằng cách chuyển dịch mạnh những ngành tiêu tốn nhiều năng lượng, nguyên liệu, lao động và gây ô nhiễm môi trường mạnh đến thị trường các nước kém phát triển hơn. Trung Quốc cần có thời gian để điều chỉnh mô hình phát triển, do vậy trước mắt vẫn có nhu cầu rất lớn về nguyên liệu, năng lượng, lao động…và theo phương châm: bảo toàn nguồn lực quốc gia, gia tăng khai thác và sử dụng các nguồn lực bên ngoài, xa trước, gần sau…Châu Phi là nguồn cung bù đắp cho sự phát triển mất cân bằng và nhiều thiếu hụt lớn của Trung Quốc. Ngoài ra, Châu Phi là thị trường đóng vai trò ngày càng quan trọng cho hàng hóa Trung Quốc, đặc biệt khi hàng hóa nước này bắt đầu bị Mỹ và phương Tây tẩy chay vì nhiều lý do, liên quan từ vấn đề chính trị, kinh tế cho đến các vấn đề về vệ sinh, an toàn của sản phẩm và bảo vệ môi trường. Như vậy, việc thúc đẩy quan hệ kinh tế với Châu Phi sẽ giúp Trung Quốc giảm thiểu các chi phí cần thiết trong phát triển kinh tế, tạo thuận lợi cho quá trình “hạ cánh mềm” sau một thời gian tăng trưởng nóng để chuyển sang một quỹ đạo phát triển mới.

Thứ hai, Châu Phi đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong những chiến lược phát triển mới đây của Trung Quốc nhằm tiếp tục mở rộng ảnh hưởng và nâng cao vị thế toàn cầu, như “Vành đai, con đường” với mục tiêu mở ra một kỷ nguyên mới mà ở đó Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc địa chính trị lớn trên thế giới [33]. Trong chiến lược “Một vành đai, một con đường”, “Con đường tơ lụa trên biển” sẽ nối các cảng của Trung Quốc với bờ biển Châu Phi và Địa Trung Hải. Châu Phi là nơi có nhiều quốc gia ủng hộ Trung Quốc trong việc triển khai những dự án này với ít điều kiện nhất. Để triển khai những chiến lược mang ảnh hưởng toàn cầu và khá toàn diện như vậy và tranh thủ sự ủng hộ của các nước Châu Phi, trụ cột này không chỉ dựa trên các biện pháp kinh tế mà còn các biện pháp khác như ngoại giao, an ninh-quân sự, văn hóa, giáo dục v.v…Theo đó, các cơ chế nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế của Trung Quốc với Châu Phi sẽ ngày càng toàn diện hơn và các hoạt động của Trung Quốc tại Châu Phi đang bắt đầu rời xa chính sách “không can thiệp” và những cam kết đứng ngoài mọi hoạt động chính trị nội bộ của các nước này.