Lịch sử ra đời Luật đầu tư

 

            Sau khi đất nước ta thống nhất năm 1975, nhu cầu khôi phục và xây dựng nề knh tế bị chiến tranh tàn phá nghiêm trọng đã được Đảng và Nhầ nước ta đặc biệt quan tâm.

Về chính sách đầu tư, đặc biệt là vấn đề đầu tư nước ngoài, các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV và Nghị quyết Trung ương lần thứ 24 nhấn mạnh chủ trương phát triển kinh tế đất nước, thiết lập và mở rộng quan hhệ giữa nước ta với các nước khác trên thế giới trên cơ sở tôn trọng chủ quyền độc lập, bình đẳng và cùng có lợi, tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; tranh thủ vốn và kỹ thuật để tận dụng cho khả năng tiềm tàng về tài nguyên và sức lao động của nước ta nhằm nhanh chóng đưa nước ta tiến lên trình độ tiên tiến trên thế giới.

Từ năm 1984, chính sách phát triển kinh tế trong nước và đầu tư nước ngoài đã có những bước tiến rõ rệt tạo tiền đề cho một giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng các thành phần kinh tế và mở rộng chính sách kinh tế đối ngoại đối với các nước trên thế giới.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đổi mới cơ chế kinh tế của Việt Nam, đặc biệt đối với đầu tư nước ngoài đã được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quuốc lần thứVI: “Công bos chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu ”.

Bước sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rằng, muốn có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng thì cần phải tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế và gia nhập thị trườg thế giới. Để thực hiện được tiến trình này, chúng ta chủ trương mở rộng các chính sách kinh tế đối ngoại, coi phát triển kinh tế đối ngoại là tiền đề của sự phát triển, đồng thời là đồn bẩy thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Bên cạnh mục tiêu tận dụng khai thác các yếu tố bên ngoài nhằm phát huy có hiệu quả nguồn lực trong nước đáp ứng phát triển kinh tế, thực hiện chính sách mở cửa một cách đồng bộ, phù hợp với hệ thôngd kinh tế mở, mục tiêu đa dạng hoá các hoạt động quan hệ đối ngoại, đa phương hoá các quan hệ đối ngoại đang ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm và đưa ra những đường lối, chủ trương đúng đắn là: “tận lực khai thác với hiệu quả cao những lợi thế và nguồn lực của đất nước, những điều kiện thuận lợi ở trong nước và trong quan hệ đối ngoại, chủ động mở rộngcác hoạt động kinh tế đối ngoại đối với các kinh tế quốc dân nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đã xác định”

Một trong những hoạt động kinh tế đối ngọai được coi là trọng điểm  đó là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong điều kiện  tích luỹ từ nền kinh tế còn hạnc hế, khả năng tạo ra nguồn hàng xuất khẩu bằng các nguồn lực trong nước còn hạn chế, không thông thạo thị trường thế giới, thì việc mở rộng hợp tác kinh doanh với nước ngoài, thu hút vốn nước ngoài để khai thác có hiệu quả nguồn lực trong nước, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước dưới cac shình thức đầu tư trực tiếp là một tất yếu khách quan.

Trong nền kinh tế của nước ta, bên cạnh việc khai thác khả năng của các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hộiu chủ nghĩa thì việc thu hút đầu tư nước ngoài có ý nghĩa và tầm quan trọng chiến lược, là mũi nhọn của kinh tế đối ngoại trong một thời kỳ dài.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định nền kinh tế nước ta, về cơ bản đã bước ra khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Con đường để thực hiện thành công chủ trương này là là khai thác tối đa nguồn lực trong và ngoài nước. Đảng và nhà nước ta đều khẳng định coi vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài là quan trọng.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: kinh tế có đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường có định hướng Xã hội chỉu nghĩa ở nước ta, được phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Thu hút đầu tư nước ngoìa là vấn đề quan trọng góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phát triển đất nước.

Trong những năm qua, kể từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam năm 1987, hoạt động đầu tư nước ngoài ở nước ta đã đạt được những kết quản đáng kể, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới; nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu; tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài những năm qua cũng đã bộc lộ những mặt yếu kém, hạn chế. Cụ thể:

–  Nhận thức, quan điểm về đầu tư nước ngoài chưa thống nhất và chưa quán triệt đầy đủ ở các cấp, các ngành; c

–  Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài có mặt còn bất hợp lý  và hiệu quả tổng thể về kinh tế-xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa cao;

–  Môi trường đầu tư chưa hấp dẫn; môi trường kinh tế và pháp ký còn đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa đồng bộ;

–  Công tác về quản lý đầu tư nước ngoài còn nhiều mặt yếu kém;

–  Thủ tục hành chính còn phiền hà;

–  Công tác cán bộ còn n hiều bất cập.

Từ những hạn chế đó cho thấy kết quả là nhịp độ tăng trưởng đầu tư trực  tiếp nước ngoài từ năm 1997 liên tục giảm sút; tuy từ năm 2000 có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa vững chắc, nếu không có biện pháp khắc phục sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư phát triển những năm tới. Trong khi đó, cạnh tranh thu hút vốn  đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới và khu vực diễn ra ngày càng gay gắt, nhất là sau khủng hoảng kinh tế khu vực.

Nhằm tiếp tục cải thiện mô trường đầu tư, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư phát triển, đóng góp nhiều hơn vào phát triển kinh tế đất nước góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian tới, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài ở Việt Nam.