Loại hình quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp

 Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Trong hoạt động xản xuất kinh doanh luôn đòi hỏi các DN phải có một lượng VLĐ cần thiết để đáp ứng nhu cầu mua sắm vật tư dự trữ, bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữa DN với khách hàng, đảm bảo quá trình SXKD được tiến hành bình thường. Đó chính là nhu cầu VLĐ thường xuyên, cần thiết của các DN. Như vậy, nhu cầu VLĐ là số VLĐ tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động SXKD của DN được tiến hành bình thường, liên tục.

Việc xác định nhu cầu VLĐ có ý nghĩa rất quan trọng và có tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của DN. Vì khi xác định nhu cầu VLĐ hợp lý sẽ là cơ sở để tổ chức thực hiện tốt các nguồn tài trợ, đáp ứng kịp thời đầy đủ số VLĐ cho hoạt động SXKD. Ngoài ra, xác định đúng nhu cầu VLĐ còn giúp DN sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm, tránh được tình trạng ứ đọng vốn, nâng cao hiệu quả, đồng thời đảm bảo yêu cầu SXKD được tiến hành thường xuyên và liên tục. Ngược lại, nếu xác định nhu cầu VLĐ quá thấp sẽ gây khó khăn trong tổ chức đảm bảo vốn, gây căng thẳng về vốn trong các hoạt động thanh toán và làm gián đoạn quá trình SXKD, không đảm bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra thường xuyên và liên tục. Không những vậy, việc xác định nhu cầu VLĐ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và việc thực hiện các hợp đồng đã được ký kết gặp khó khăn. Nếu xác định nhu cầu VLĐ quá cao sẽ dẫn đến tình trạng thừa vốn, gây ứ đọng vật tư, hàng hóa, gây lãng phí, phát sinh các khoản chi phí không cần thiết và không hợp lý, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, từ đó làm giảm lợi nhuận của DN. Chính vì vậy, trong quản trị VLĐ, các DN cần chú trọng xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh cụ thể của DN.

Để xác định đúng nhu cầu VLĐ thường xuyên và có biện pháp sử dụng VLĐ hiệu quả và tiết kiệm, các nhà quản trị cần phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu VLĐ. Nhu cầu VLĐ của DN chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quy mô kinh doanh; đặc điểm, tính chất ngành nghề kinh doanh; sự biến động của giá cả vật tư, hàng hóa trên thị trường; điều kiện phương tiện vận tải, khoảng cách giữa DN với nhà cung cấp vật tư, khoảng cách giữa DN với thị trường đầu ra của sản phẩm; chính sách bán hàng và chính sách tín dụng; trình độ tổ chức, quản lý và sử dụng VLĐ; trình độ kỹ thuật – công nghệ sản xuất;…

Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của DN trong từng thời kỳ mà có thể lựa chọn, áp dụng các phương pháp khác nhau để xác định nhu cầu VLĐ. Hiện nay, có 2 phương pháp chủ yếu xác định nhu cầu VLĐ là phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.

* Phương pháp trực tiếp: Theo phương pháp này, nhu cầu VLĐ thường xuyên được xác định dựa vào việc xác định trực tiếp nhu cầu vốn cho hàng tồn kho, các khoản phải thu, các khoản phải trả nhà cung cấp.

Nhu cầu VLĐ được xác định theo công thức sau:

Việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết theo phương pháp này  được thực hiện theo trình tự sau:

– Xác định nhu cầu vốn về HTK trong cả ba khâu (khâu dự trữ sản xuất, khâu sản xuất và khâu lưu thông);

– Xác định nhu cầu vốn về nợ phải thu;

– Xác định các khoản phải trả.

Cụ thể như sau:

Xác định nhu cầu vốn về hàng tồn kho:

     + Trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm nhu cầu vốn dự trữ nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế… khi đó nhu cầu VLĐ cho từng loại vật tư dự trữ sẽ được xác định dựa vào nhu cầu sử dụng vốn bình quân một ngày và số ngày dự trữ của từng loại. Công thức tổng quát như sau

dự trữ thành phẩm được xác định căn cứ vào số ngày cách nhau giữa hai lần giao hàng được ký kết với khách hàng; hoặc tính theo số ngày cần thiết để tích lũy số đủ số lượng sản phẩm xuất giao cho khách hàng. Nếu DN bán thành phẩm cho nhiều khách hàng thì căn cứ vào số ngày dự trữ thành phẩm bình quân giữa các khách hàng đó.

Xác định nhu cầu vốn nợ phải thu: nợ phải thu là khoản vốn bị khách hàng chiếm dụng hoặc do DN chủ động bán chịu sản phẩm cho khách hàng. Do vốn đã bị khách hàng chiếm dụng nên để sản xuất hoat động SXKD của DN diễn ra bình thường DN phải bỏ thêm VLĐ vào sản xuất. Công thức tính khoản phải thu như sau: