Lược sử địa vị pháp lý của công đoàn ở Việt Nam

Dưới thời đô hộ của chính quyền thực dân Pháp, những tổ chức công nhân bị triệt để cấm chỉ hoạt động. Do vậy, các hoạt động đấu tranh của công nhân thường được đặt trong phong trào chính trị giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Nhiều cuộc bãi công, biểu tình của nhân dân lao động đã bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Vào những năm 1936-1939, Mặt trận bình dân lên cầm quyền ở Pháp đã làm cho chính quyền Pháp tại Việt Nam tỏ vẻ nhân nhượng với phong trào lao động bằng cách ban hành Bản tổng quy lao động ngày 27-01-1937. Nhưng sau đó, mặt trận bình dân ơ Pháp bị lật đổ, những quy định trong bản tổng quy lao động hầu như không đươûc áp dụng.

Vào những năm 1945, sau khi chính quyền Pháp tại Đông Dương bị phát xít Nhật đảo chính, chính phủ bù nhìn Nam triều Trần Trọng Kim đã ban hành dụ số 73 ngày 05-07-1945 quy định thể lệ cho công nhân thành lập nghiệp đoàn. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, Nhật đầu hàng quân đồng minh, chính phủ thân Nhật sụp đổ, Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Phong trào công nhân và hoạt động công đoàn bước sang một giai đoạn mới.

Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành năm 1946, quyền thành lập và hoạt động công đoàn của giới cần lao nằm trong quyền “tự do tổ chức và lập hội” đã được ghi nhận ở Điều 10. Sau đó, ngày 05-11-1957 Luật Công đoàn Việt Nam đầu tiên đã được công bố và áp dụng đối với công nhân, viên chức Nhà nước. Đến Hiến pháp 1980 cũng giành một điều ghi nhận vị trí, vai trò của công đoàn. Tuy nhiên, do nằm trong khuôn khổ của cơ chế quản lý kinh tế xã hội của thời kỳ cũ, nên địa vị pháp lý của công đoàn còn chung chung, mang nặng tính hình thức.

Với một cái nhìn mới về vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một đạo luật mới về công đoàn đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố vào ngày 07-07-1990. Bộ luật Lao động cũng giành 4 điều ở chương XIII để cụ thể hóa một số quy định về tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Như vậy, với các quy định của Hiến pháp, Luật Công đoàn 1990, và Bộ luật Lao động 1994 đã làm thành một chế định khá quan trọng của Luật lao động Việt Nam, chế định về công đoàn. Từ đó, địa vị pháp lý của công đoàn ngày càng được xác định đầy đủ hơn và nâng cao thêm, nhằm đáp ứng những yêu cầu của cơ chế thị trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.