Lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong Kinh tế học thuộc trường phái chính hiện đại

Trường phái chính hiện đại là một trong những trường phái kinh tế lớn nhất hiện nay, hiện đang giữ vai trò thống trị ở hầu hết các nước trên thế giới, nổi bật là  ở Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu. Đại biểu nổi bật của trường phái này là P.A. Samuelson và W.D. Nordhaus với tác phẩm nổi tiếng là “Kinh tế học” được xuất bản lần đầu vào năm 1948.

Đối tượng nghiên cứu của trường phái này là những vấn đề thực tiễn của nền kinh tế thị trường phát triển. Theo trường phái này, quy luật phổ biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là: ngành nông – lâm – thủy sản và ngành công nghiệp khai khoáng có xu hướng giảm tỷ trọng so với ngành công nghiệp chế biến và hiện nay tất cả các ngành này đều có xu hướng giảm tỷ trọng so với ngành dịch vụ. Đồng thời, trong quá trình phát triển, có những ngành công nghiệp “không có tương lai” hay còn gọi là những ngành công nghiệp “mặt trời lặn”, đó là những ngành đang mất đi khả năng đem lại lợi nhuận trong tương lai, mặc dù trước đây nó đã từng đem lại lợi nhuận lớn và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế của một quốc gia. Ngược lại, có những ngành “mặt trời mọc”, mà hiện nay thường gắn liền với kỹ thuật sản xuất hiện đại và mang tính trí tuệ cao, đang từng bước có những đóng góp tích cực về lợi nhuận, giữ vai trò quan trọng cho quốc gia trong triển vọng.

Theo trường phái này, các nhà đầu tư sẽ căn cứ vào một loạt các nhân tố như giá vốn, giá sức lao động, giá nguyên nhiên vật liệu, giá hàng hóa bán ra… để quyết định xem nên đi vào kinh doanh ngành nào. Nhưng dù sao thì quyết định đi vào kinh doanh ngành nào vẫn chỉ là quyết định của các nhà doanh nghiệp, mà người hướng dẫn chính là thị trường. Nhưng bản thân thị trường cũng thất bại, cho nên vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Chỗ nào, lúc nào thị trường có thất bại thì chỗ đó, lúc đó có sự can thiệp của Nhà nước. Công cụ chủ yếu mà Nhà nước dùng để can thiệp vào nền kinh tế là chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập và chính sách thương mại… Nhà nước làm thay đổi các thông số đầu vào nhằm hướng dẫn sự chuyển dịch của cơ cấu đầu tư vào các ngành khác nhau theo ý muốn. Tuy nhiên, trong quá trình Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế, trường phái này cũng luôn dè chừng khả năng có “thất bại”, bởi những biện pháp can thiệp của Nhà nước có thể làm xơ cứng cơ chế linh hoạt vốn có của thị trường.

Đối với từng nền kinh tế cụ thể, cùng dựa trên nền tảng lý luận này, song mỗi nước lại thiên về một xu hướng khác nhau. Chẳng hạn, ở Mỹ có xu hướng thị trường tự vận động (phó mặc thị trường); còn ở Nhật Bản và các nước NICs thì vai trò can thiệp của Nhà nước là khá sâu. Vì vậy, có thể rút ra một kết luận là các nước đi muộn hơn các nước tư bản công nghiệp, cần thiết phải có “chính sách cơ cấu” rất hợp lý và cụ thể của Nhà nước để đẩy nhanh tiến trình CNH.