LÝ THUYẾT CĂN BỆNH HÀ LAN

1. Định nghĩa

1.1. Lịch sử ra đời thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan”

Vào những năm 1960, sau khi phát hiện một mỏ khí gas lớn ở vùng biển phía bắc, Hà Lan đã tập trung khai thác và xuất khẩu một lượng khí đốt lớn. Điều này đã mang lại cho nước này nguồn ngoại tệ khổng lồ và nền kinh tế Hà Lan giàu lên nhanh chóng. Tuy nhiên cũng chính nguồn ngoại tệ ấy đã đẩy giá đồng nột tệ của Hà Lan lên cao làm giảm xuất khẩu và sức cạnh tranh của các ngành sản xuất khác trong nước. Để chỉ tình trạng kinh tế đó ở Hà Lan, năm 1977, tạp chí The Economist lần đầu tiên đưa ra  thuật ngữ “căn bệnh hà Lan” .

1.2. Định nghĩa thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan”

“Căn bệnh Hà lan” chỉ nguy cơ (tình trạng) suy giảm mạnh của khu vực sản xuất (manufacturing factor) khi một quốc gia tập trung khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu. Mở rộng ra, thuật ngữ này cũng dùng để chỉ tình trạng giảm sút của nền kinh tế do có sự gia tăng dòng ngoại tệ nói chung như sự tăng nhanh giá tài nguyên thiên nhiên xuất khẩu hay nguồn viện trợ từ nước ngoài, nguồn vốn FDI 1

2. Mô hình và tác động của Căn bệnh Hà Lan

2.1. Mô hình cổ điển

2.1.1. Nội dung

Mô hình cổ điển của Căn bệnh hà Lan được công bố bởi hai nhà kinh tế học là W. Max Corden và J. Peter Neary vào năm 1982. Mô hình này dựa trên giả thiết rằng nền kinh tế quốc dân được chia ra làm 2 khu vực: khu vực xuất khẩu (tradable sector) và khu vực không xuất khẩu (non-tradable). Trong đó, khu vực xuất khẩu được chia làm 2 khu vực nhỏ.

  • Khu vực “bùng nổ” (booming sector) :  khu vực khai thác tài nguyên
  • Khu vực “trì trệ” (non-booming sector):  khu vực chế tạo (manufacturing sector)

Các giả thiết khác là tổng lực lượng lao động không đổi, nền kinh tế trong trạng thái toàn dụng lao động, và tỷ giá hối đoái danh nghĩa cố định

2.1.2. Tác động

v Hiệu ứng di chuyển nguồn lực (resource movement effect)

Khi các ngành khai thác tài nguyên bùng nổ, lượng cầu về lao động của khu vực này tăng lên, lao động từ khu vực sản xuất (manufacturing sector) sẽ chuyển sang khu vực khai thác này làm cho khu vực sản xuất bị thiếu cung lao động và trở nên suy thoái. Quá trình này được gọi là phi công nghiệp hóa trực tiếp (Direct Reindustrialize )

Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực khai thác đã làm tăng tăng thu nhập của người lao động trong lĩnh vự này. Nhu cầu tiêu dùng của họ vì thế cũng tăng lên. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực không xuất khẩu (non-tradable sector). Sự tăng trưởng này lại kéo theo sự di chuyển nguồn lực từ khu vực chế tạo và khiến cho khu vực này ngày càng trì trệ hơn. Quá trình này được gọi là phi công nghiệp hóa gián tiếp (Indirect Reindustrialize). W. Max Corden và J. Peter Neary  gọi đây là hiệu ứng di chuyển nguồn lực của căn bệnh Hà Lan (resource movement effect)

v Hiệu ứng tiêu dùng

Theo thuyết của Migara, thị trường có hai thành phần tham gia là Nontrable (N) và Tradable (T). Trong đó, N là những loại hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước chỉ phục vụ nhu cầu trong nước như dịch vụ, xây dựng…và không tham gia xuất khẩu hay nhập khẩu; T là tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước để phục vụ hoạt động xuất và nhập khẩu cũng như là cầu nội địa.

Hiệu ứng tiêu dùng xảy ra khi những người có thu nhập từ yếu tố bùng nổ tăng lên, và lượng thu nhập này sẽ được chi cho cả hai mặt hàng là N và T. Nếu cầu của N so với thu nhập là co dãn thì thu nhập tăng sẽ đẩy giá N tăng. Khi giá N tăng nghĩa là đầu vào của T cũng tăng theo như giá của nguyên, nhiên liệu hay lương nhân công. Tuy nhiên giá của T lại cố định bởi đó là những mặt hàng được giao dịch quốc tế và bị áp dụng nguyên tắc một giá. Do vậy, khi chi phí sản xuất tăng, lợi nhuận của các nhà sản xuất T sẽ bị giảm. Do đó, cầu T tăng sẽ được thay thế bằng các mặt hàng nhập khẩu.

Khi tỉ giá danh nghĩa là cố định, thu nhập tăng nhưng sẽ không kéo theo giá của T tăng theo. Khi đó, cầu tăng của N sẽ làm giá tăng và do đó mà tỷ giá hối đoái thực tế tăng theo. Với tỷ giá hối đoái được định nghĩa như sau:

Q = e (Pt/Pn)

Trong đó: Q là tỉ gía hối đoái thực tế

e là tỉ giá hối đoái danh nghĩa giữa nội tệ và ngoại tệ

Pt, Pn là giá của N và T.

Pn tăng sẽ làm giá trị Q giảm. Hiện tương này được gọi là sự tăng tỉ giá hối đoái thực tế bởi giá trị nội tệ  tăng so với ngoại tệ.

Khi đồng nội tệ tăng so với ngoại tệ sẽ làm sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu giảm, cùng với đó lại làm nhập khẩu tăng. Tức là hiệu ứng tiêu dùng trên không những sẽ làm tăng giá các mặt hàng N trong nước, gây áp lực lạm phát; đồng thời nó còn làm các ngành sản xuất các mặt hàng T xuất khẩu khác bị suy yếu và lượng nhập khẩu lại gia tăng.

2.2. Mô hình 4 khu vực

2.1.1 Nội dung

Mô hình 4 khu vực được nghiên cứu và bổ sung nhiều lần bởi nhiều kinh tế gia như Krugman, Ohyama, Helpman… và cả World Bank, IMF. Chúng ta có thể tham khao bài nghiên cứu và tổng hợp khá đầy đủ của O De Silva năm 1994.

Về cách phân chia nền kinh tế, mô hình 4 khu vực cũng chia tradable sector thành  khu vực có sự bùng nổ và khu vực không có sự bùng nổ. Điểm khác biệt là khu vực nontradable cũng được chia thành khu vực sản xuất hàng tư bản và khu vực sản xuất hàng tiêu dùng. Bên cạnh đó, thay vì nghiên cứu nông nghiệp như một khu vực đơn nhất giống mô hình 2 khu vực, mô hình 4 khu vực xem khu vực nông nghiệp gồm khu vực sản xuất nhằm xuất khẩu thu lợi nhuận (cash crops) và khu vực sản xuất lương thực tiêu dùng trong nước (food crops) thay vì một khu vực đơn nhất.

2.1.2 Tác động

v Hiệu ứng di chuyển nguồn lực

Về cơ bản, mô hình 4 khu vực cũng thừa nhận tác động duy chuyển nguồn lực như mô hình 2 khu vực. Tuy nhiên, do có sự phân chia khu vực chi tiết hơn, mô hình này phân tích các tác động chi tiết hơn.

Cụ thể, đối với khu vực nông nghiệp, hiệu ứng duy chuyển nguồn lực chỉ ra rằng, do đồng nội tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh mà khu vực sản xuất xuất khẩu cash crops sẽ bị thu hẹp lại trong lúc khu vực food crops lại có xu hướng được mở rộng hơn. Nghiên cứu cụ thể của Benjamin, Devarajan và Weiner năm 1989 đã cho thấy rõ tác động này. Đó là sự sụt giảm mạnh mẽ của cash crops trong khi food crops lại phản ứng tích cực với sự bùng nổ của khai thác dầu ở Camoroon những năm 1979-1985.

Hiệu ứng di chuyển nguồn lực cũng diễn ra tương tự như vậy trong khu vực công nghiệp. Một số ngành sản xuất như sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất hàng tư bản…phục vụ cho nhu cầu trong nước có xu hướng phát đạt hơn do dòng ngoại tệ làm cầu tăng. Trong lúc các ngành công nghiệp sản xuất xuất khẩu có dấu hiệu suy thoái do mức độ cạnh tranh giảm. Ngoài ra, mô hình 4 nhân tố cũng chỉ ra rằng, các ngành sản xuất hàng tư bản thường có mức tăng trưởng cao hơn các ngành hàng tiêu dùng do dòng ngoài tệ thường được ưu tiên cho việc đầu tư như phát triển cơ sở hạ tầng…

v Hiệu ứng tiêu dùng

Về hiệu ứng tiêu dùng, mô hình 4 khu vực không có nhiều khác biệt với mô hình 2 khu vực. Thu nhập cao hơn tạo xu hướng tiêu dùng cao hơn trong nước và do đó thúc đẩy các ngành sản xuất cho tiêu dùng trong nước phát đạt hơn trong lúc nền kinh tế có nguy cơ lạm phát.

3. Giải pháp khắc phục Căn bệnh hà Lan

Đối với những quốc gia mà nguồn thu từ tài nguyên chỉ là tạm thời, dòng tiền trợ cấp chỉ có trong thời gian ngắn…, các nhà hoạch định phải bảo vệ những thành phần kinh tế dễ bị tổn thương bằng cách can thiệp vào tỷ giá hối đoái. Việc bán nội tệ đổi lấy ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại tệ và giữ đúng giá của nội tệ giúp bảo vệ nền kinh tế khỏi sự nhiễu loạn trong ngắn hạn do tác động của ‘căn bệnh Hà Lan”. Tuy nhiên, việc dự trữ ngoại có thể dẫn đến nguy cơ lạm phát và cũng chưa chắn rằng lượng dự trữ sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả do đó mà việc điều hành khôn khéo tỷ giá hối đoán là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà thực hiện chính sách.

Ở những quốc gia mà nguồn thu từ tài nguyên có thể tồn tại lâu dài, nhà hoạch định chính sách cần thay đổi cấu trúc nền kinh tế để tạo nên sự ổn định. Họ có thể gia tăng năng suất trong việc sản xuất các mặt hàng phi mậu dịch (bằng cách tư nhân hóa hay cơ cấu lại) và đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực. Họ cũng có thể đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu để giảm sự phụ thuộc vào các mặt hàng thuộc nhân tố “bùng nổ”(tài nguyên), đồng thời giúp khu vực này có khả năng chống chọi những “cú sốc” từ bên ngoài chẳng hạn như khi giá các mặt hàng xuất khẩu chiến lược bất ngờ sụt giảm mạnh