Lý thuyết cất cánh của W.W. Rostow

Lý thuyết này do nhà kinh tế Walt Whitman Rostow (người Mỹ) đưa ra, được trình bày trong tác phẩm “Các giai đoạn của tăng trưởng kinh tế” được xuất bản vào năm 1960. Theo ông, quá trình tăng trưởng kinh tế trải qua 5 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: xã hội truyền thống với đặc trưng cơ bản là nông nghiệp giữ vai trò thống trị, năng suất lao động thấp và xã hội kém linh hoạt.

Giai đoạn 2: chuẩn bị cất cánh là giai đoạn các chủ doanh nghiệp có đủ khả năng thực hiện đổi mới, phát triển kết cấu hạ tầng đặc biệt là giao thông, xuất hiện các nhân tố tăng trưởng, bắt đầu xuất hiện những khu vực có tác động lôi kéo nền kinh tế, tức là hình thành các cực tăng trưởng.

Giai đoạn 3: cất cánh là giai đoạn đáp ứng cả ba yêu cầu sau: (i) tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư trong thu nhập quốc dân tăng từ 5% lên đến hơn 10%; (ii) xây dựng được những lĩnh vực công nghiệp có khả năng phát triển nhanh, có hiệu quả, đóng vai trò “đầu tàu”, lợi nhuận được tái đầu tư, tư bản, năng suất lao động và thu nhập bình quân đầu người tăng vọt; (iii) phải xây dựng được bộ máy chính trị, xã hội và thể chế để thúc đẩy mạnh mẽ khu vực hiện đại, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

Giai đoạn 4: chín muồi về kinh tế là giai đoạn mà tỷ lệ đầu tư trên thu nhập quốc dân đạt ở mức cao (10-20%); xuất hiện nhiều cực tăng trưởng mới như luyện kim, hóa chất, điện… thay thế vai trò của các ngành đã làm cơ sở cho quá trình cất cánh; thêm nhiều công nghệ tinh vi được đưa vào sử dụng.

Giai đoạn 5: kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt là giai đoạn của quốc gia phát triển cao, thịnh vượng; mức sống, thu nhập và tiêu dùng cao; nền sản xuất đa dạng hóa; thị trường linh hoạt và có hiện tượng suy giảm nhịp độ tăng trưởng.

Lý thuyết cất cánh của W.W. Rostow có ý nghĩa thực tiễn như sau:

Một là, lý thuyết này giúp ta đánh giá về thực trạng và xu thế phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, hầu hết các nước đang phát triển đang tiến hành CNH hiện nay nằm trong khoảng giai đoạn chuẩn bị cất cánh và cất cánh tùy theo mức độ phát triển của từng nước; các nước NICs nằm trong giai đoạn chín muồi về kinh tế và các nước phát triển nằm trong giai đoạn kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt (hậu CNH).

Hai là, lý thuyết này cho rằng mỗi giai đoạn khác nhau có các cực tăng trưởng khác nhau. Vì vậy, Nhà nước cần phải có chính sách cơ cấu linh hoạt nhằm phát huy tối đa lợi thế so sánh trong từng giai đoạn để đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước. Về điểm này, nó rất gần gũi với lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay các “cực tăng trưởng” và học thuyết kinh tế cơ cấu mới của Justin Yifu Lin mà luận án sẽ đề cập đến ở phần sau.

Tuy nhiên, lý thuyết này ra đời trên cơ sở khái quát lịch sử phát triển của  nhiều nước và vì vậy, nó không đi vào mô tả sâu những khía cạnh đặc thù của từng nước cụ thể.