Lý thuyết của Myin về giải thoát lượng tồn dư

Theo Myin (1958), thì ở các nước chậm phát triển, thị trường chưa hoàn chỉnh. Do đó, các chức năng của thị trường đối với quá trình sản xuất thường chưa bộc lộ hết, đặc biệt là chức năng thông tin. ở các nước đó, giá cả chưa phải là tín hiệu hữu hiệu để đưa các tài nguyên vào sản xuất một cách hợp lý.

Thí dụ, tại Việt Nam, giá cả nông sản chưa phản ánh tình hình cầu về nông sản trên toàn thế giới, lấy giá sản phẩm cà phê làm thí dụ. Nếu là nền kinh tế đóng cửa, rõ ràng việc tiêu thụ cà phê không phải là thị hiếu phổ biến của dân cư Việt Nam. Do đó, có thể giá sản phẩm cà phê trên thị trường không cao. Với mức giá đó, sẽ không khuyến khích việc khai thác hàng trăm ngàn héc ta đất vùng trung du, cao nguyên, miền núi để trồng cà phê. Tuy nhiên, trên thực tế, mặc dù dân cư Việt Nam ít uống cà phê, do vậy mà lượng cà phê tiêu thụ trên thị trường nội địa không đáng kể, nhưng đến năm 2000, Việt Nam đã có trên 413 ngàn héc ta cà phê. Có được diện tích cà phê lớn như vậy, là nhờ tín hiệu giá cả quốc tế đã phát huy chức năng của nó ở Việt Nam. Hàng trăm ngàn héc ta đất vùng cao đó, nếu không có thương mại quốc tế, chắc chắn sẽ vẫn còn ở trạng thái “nằm ngủ” mà thôi.

Từ nguyên lý của lý thuyết của H-O, cũng như từ thực tiễn hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản trên thế giới, có thể suy luận ra rằng: khi có thương mại quốc tế tác động vào nền kinh tế của mỗi quốc gia, sẽ làm tăng mức cầu khai thác các yếu tố đầu vào của sản xuất, mà những yếu tố này đang ở trạng thái “nằm ngủ”. Đó là những yếu tố tương đối sẵn có và rẻ, do cầu của thị trường trong nước còn yếu. Đồng thời với quá trình tăng cầu khai thác những yếu tố đầu vào đang trong trạng thái “nằm ngủ”, thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp cũng sẽ làm tăng mức cầu chung của thị trường nội địa, nhờ thu nhập của dân cư tăng lên khi tham gia sản xuất và xuất khẩu nông sản.

Sau khi nghiên cứu một cách vắn tắt 5 lý thuyết về thương mại quốc tế, có thể ứng dụng vào nông nghiệp, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

Thứ nhất, thương mại quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá theo lợi thế đã làm tăng thêm lợi ích cho xã hội trên bình diện quốc tế.

Thứ hai, lợi ích của các tác nhân tham gia vào quá trình thương mại quốc tế không nhất thiết cân bằng. Tức là, phần lợi nhiều hay ít có thể nghiêng về một bên nào đó, tuỳ thuộc vào các nhân tố chi phối quá trình thương mại.

Thứ ba, có thể coi những lý thuyết nói trên là cơ sở lý luận để bênh vực cho xu hướng tự do hoá thương mại trên phạm vi quốc tế, mà xu hướng đó đã và đang diễn ra ngày càng rõ nét trong đời sống kinh tế thế giới. Xu hướng tự do hoá thương mại là một trong những nội dung quan trọng của xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.

Thứ tư, do tự do hoá thương mại quốc tế ngày đang trở thành xu thế tất yếu, nên các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cần chủ động trong nhận thức qui luật và có bước đi thích hợp trong quá trình hội nhập xu thế đó, làm sao để quá trình từng bước tự do hoá thương mại đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất ở Việt Nam.

Thứ năm, những nguyên lý trên là cơ sở lý thuyết để mỗi người Việt Nam thêm tin tưởng vào đường lối mở cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam.