Lý thuyết dựa vào nguồn lực (Resource-based theory)

Quan điểm dựa vào nguồn lực (resource-based view) bắt nguồn từ Barney (1991), được Acedo, Barroso và Galan (2006) phát triển thành lý thuyết dựa vào nguồn lực (Resource-Based Theory). Việc phát triển khuynh hướng nghiên cứu này đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện (Barney, 2001; Priem và Butler,  2001; Makadok, 2001; Mahoney, 2001; Phelan và Lewin, 2000).

Mặc dầu còn một số tranh cãi về tình trạng của lý thuyết này, ngày càng có nhiều những nghiên cứu có ý tưởng đồng thuận chung về tính phổ biến của RBT: (1) tính phổ biến của lý thuyết này trong tài liệu học thuật và trong thực tiễn quản lý (Priem và Butler, 2001); (2) mang đặc điểm không đồng nhất, trong đó có nhiều lý thuyết khác nhau (Barney, 2001; Mahoney, 2001) hoặc nhận thức khác nhau (Makadok, 2001); (3) sự nổi tiếng của lý thuyết này như một cách tiếp cận chính thức (Phelan và Lewin, 2000). Runyan và Huddleston (2006) nhấn mạnh có sự tương đồng giữa một doanh nghiệp và một điểm đến, bởi điểm đến là một dạng xếp loại hoạt động trong kinh doanh, hiệu quả hoạt động của tập thể đó được phản ảnh trong mức độ thành công của điểm đến. Họ tiếp tục thừa nhận rằng điểm đến hoạt động như một doanh nghiệp. Tương tự như một doanh nghiệp, tại một điểm đến, theo RBT có 3 khuynh hướng chính đã được Acedo và ctg (2006) nghiên cứu gồm: quan điểm dựa vào nguồn lực (Resource-Based View); quan điểm dựa vào kiến thức (Knowledge-Based View) và quan điểm về các mối quan hệ (Relational View).

Quan điểm dựa vào nguồn lực – mỗi tổ chức độc lập đều có những cấu trúc nguồn lực cụ thể là những tài sản vật chất, và khả năng sở hữu và/hoặc kiểm soát của mình, có tính riêng có, phát sinh từ lịch sử hình thành của nó. Nguồn lực của tổ chức được xem là quan trọng để tạo nên hoạt động đổi mới, tạo lợi thế cạnh tranh trong dài hạn, và có thể phân thành các dạng tổng quát: (1) nguồn lực về vật chất như tài chính, nhà xưởng, công nghệ, hệ thống trang thiết bị; (2) nguồn lực phi vật chất như thương hiệu, giấy phép, danh tiếng, hợp tác mạng lưới, cơ sở dữ liệu; và (3) năng lực: kiến thức, khả năng tổ chức sử dụng tài sản cố định, quan sát cơ hội kinh doanh, khả năng sản xuất kiến thức mới dựa trên cơ sở kiến thức đã có, khả năng đổi mới sản xuất… (Vitolina và Cals, 2013).

Das và Teng (2000) cho rằng trong thời đại toàn cầu hóa, thị trường mở cửa,  việc tận dụng nguồn lực từ bên ngoài thông qua các hình thức như mua hoặc hợp tác với các đối tác sẽ tạo nên một nguồn lực mới mạnh mẽ hơn, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thông qua việc có và sử dụng được nguồn lực có giá trị từ bên ngoài để tạo nên sự phát triển.

González và Falcón (2003) chỉ ra rằng việc xem xét dựa trên tài nguyên cho một điểm đến du lịch so với một doanh nghiệp là khả thi vì một số điểm tương đồng: một là điểm đến có thể tồn tại một loạt các mục tiêu như doanh nghiệp như thành lập cơ quan quản trị; hai là điểm đến sở hữu một loạt tài nguyên và khả năng được sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế nhất định; và ba là điểm đến du lịch bị giới hạn bởi môi trường, và cần phải thích nghi để các hoạt động được tồn tại.

Khi nghiên cứu RBT tại điểm đến du lịch ở Brazilian, Nakatani và Teixeira (2009) thấy rằng nguồn lực điểm đến có thể hiểu là sự kết hợp các nguồn lực để sản xuất, cung cấp dịch vụ, và một số tài nguyên rất tốn kém để có được và duy trì kết quả trong dài hạn. Vì vậy, dựa vào nguồn lực là một trong những cách thức để giảm thiểu chi phí sao chép hoặc có được những tài nguyên mà tổ chức khác đang quản lý và không dễ dàng chuyển giao nếu không có một liên minh hoặc sự hợp tác chiến lược.

Nguồn lực dựa vào kiến thức – kiến thức có thể được coi là việc sử dụng các kỹ năng, kinh nghiệm để tăng thêm thông tin cần có trước khi ra các quyết định hoặc là để cung cấp nguồn lực cho các hoạt động. Theo nghĩa đó, kiến thức có thể được khái quát hóa như một nguồn lực để giải quyết quá trình phát triển ở tất cả các quy mô (điểm đến, vùng, ngành công nghiệp, quốc gia) (Ahmed và Dwyer, 2012).

Choi, Miao, Kim và Cai (2011) đề xuất cấu trúc kiến thức của một điểm đến gồm ba yếu tố gồm: (1) các đơn vị kinh doanh, (2) các loại kiến thức, và (3) quy trình của kiến thức, và cho rằng kiến thức là một nguồn sáng tạo, dẫn đến lợi thế cạnh tranh bền vững, đã được hỗ trợ ở cấp độ tổ chức và cấp khu vực và dẫn đến kết quả là sự phát triển.

Kiến thức có trong tổ chức, bất kể hiệu ứng lan tỏa của nó đến các bộ phận trong đó, có thể được phân loại như kiến thức dựa trên tổ chức. Nó kích thích sự thay đổi và đổi mới trong tổ chức (Venkitachalam và Busch, 2012). Một khu vực cũng vậy, các kiến thức có được trong điểm đến, khu vực bao gồm không chỉ là những kiến thức được xử lý bởi các tổ chức đó (ví dụ con người, cộng đồng và các tổ chức kinh doanh tư nhân) mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả của mạng lưới khu vực trong việc tạo ra, đổi mới và đối phó với các vấn đề thay đổi môi trường kinh doanh của điểm đến, khu vực.

Kiến thức hiện được thành hai loại là kiến thức ngầm và kiến thức rõ ràng (Venkitachalam và Busch, 2012).

Kiến thức ngầm được tạo ra bằng kinh nghiệm, nó được xử lý thông qua hoạt động không chính thức, tương tác mặt đối mặt trong một bối cảnh cụ thể của địa phương, do vậy, kiến thức ngầm rất khó để hệ thống hóa và chỉ được truyền từ cá nhân này đến cá nhân khác, nó có giá trị như một nguồn năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và khu vực (Venkitachalam và Busch, 2012). Ngược lại với kiến thức ngầm, kiến thức rõ ràng có thể được hệ thống hóa và được chia sẻ chính thức, nó thường được tìm thấy trong các hình thức như tài liệu, cơ sở dữ liệu, hồ sơ, và danh mục khách hàng, và đại diện cho vốn kiến thức được khai thác bởi những người làm việc cho các tổ chức. Hiệu quả sau đó, những kiến thức rõ ràng cung cấp cơ sở hạ tầng cho nội bộ tổ chức và mạng lưới liên quan làm việc. Brown và Duquid (2001) giải thích rằng có kiến thức ngầm được nhúng trong kiến thức rõ ràng, và được yêu cầu sử dụng nó một cách hiệu quả.

Trong quy trình về kiến thức, việc sáng tạo, tích lũy và chia sẻ kiến thức có vai trò quan trọng trong việc đổi mới (Venkitachalam và Busch, 2012). Kiến thức ngầm được chuyển hóa thành kiến thức rõ ràng sẽ giúp kiến thức có thể bắt chước một cách hoàn hảo. Trường hợp không có đủ kiến thức, điều này có thể dẫn đến những khoảng trống kiến thức có liên quan đến việc đổi mới, ví dụ như các sáng kiến cải tiến hoặc đột phá quan trọng thường liên quan đến việc học tập nhiều hơn, và thường được liên kết với năng lực của các tổ chức, nghĩa là khả năng của tổ chức để nắm bắt và hiểu những kiến thức đó.

Khi xem xét dưới góc độ quản trị kiến thức, Cooper (2006) cho rằng mô hình dựa vào nguồn lực kiến thức cần:

  • Kho kiến thức và vẽ bản đồ: kho kiến thức trong một tổ chức, hoặc điểm đến, bao gồm cả kiến thức rõ ràng và kiến thức ngầm. Điểm đến phải nắm giữ và hệ thống hóa kiến thức để đảm bảo rằng nó là hợp lý, phù hợp và sử dụng được cho ngành công nghiệp du lịch. Một tổ chức hiểu rõ môi trường hiện tại thông qua việc thực hành vẽ bản đồ để kiểm toán hiệu quả lượng kiến thức hiện có so với yêu cầu và do đó xác định những khoảng trống cần được lấp đầy. Thông thường, kiểm toán kho kiến thức sẽ bao gồm tài sản, các chương trình, hoạt động, thực hành, liên hệ các điều này đến tính cạnh tranh của tổ chức. Trọng tâm của việc thực hiện là lập bản đồ kiến thức chứ không phải chỉ đơn giản là dữ liệu hoặc thông tin. Vì vậy, điều quan trọng là cho một tổ chức du lịch để hiểu bản chất của tri thức là một nguồn tài nguyên.
  • Nắm bắt kiến thức. giai đoạn tiếp theo của mô hình này là rất quan trọng trong việc đảm bảo rằng kiến thức lỗi thời, những gì không liên quan đến các quá trình kinh doanh của tổ chức và mục tiêu chiến lược phải được lọc ra. Nắm bắt kiến thức liên quan đến việc xác định các nhà cung cấp kiến thức cả bên trong và bên ngoài cho một tổ chức hoặc điểm đến.
  • Mã hóa kiến thức. Mã hoá kiến thức của tổ chức thành dữ liệu để thúc đẩy, dễ sử dụng, và chuyển giao hiệu quả, do đó các kiến thức cần được đến đúng người cần nó vào đúng thời điểm.
  • Dòng chảy kiến thức. Mục tiêu cuối cùng là chuyển giao có hiệu quả và sử dụng kiến thức để đóng góp vào việc tăng cường nguồn lực cho tổ chức, điểm đến tạo nên sự phát triển mới.
  • Mô hình chuyển giao kiến thức. Đối với du lịch, các mô hình về khả năng hấp thụ là phù hợp nhất. Nó đề cập đến thực tế là tổ chức phải đáp ứng các yếu tố đầu vào và khả năng của họ để thực hiện, như vậy, sẽ phụ thuộc một phần vào kiến thức hiện có; kho kiến thức càng hiệu quả, việc tiếp thu kiến thức mới sẽ hiệu quả hơn.

Nguồn lực về quan hệ liên quan (Relational View) – Lý thuyết phân tích mạng lưới xã hội xem xét mối quan hệ dựa trên các nút và các mối quan hệ. Nút là một cấu trúc xã hội của cá nhân (hay tổ chức), kết nối với mạng lưới bằng một hay nhiều sự phụ thuộc lẫn nhau. Theo quan hệ liên quan, nút được thay bằng các nguồn hành động của cá nhân hay tổ chức và kết nối mạng trong các quan hệ xã hội và quan hệ hợp đồng. Với kết nối mạng, chất lượng của các nguồn lực dựa vào chất lượng của quá trình tương tác và quan hệ của các nguồn lực mà các bên liên quan đưa vào hệ thống (Das và Teng, 2000; Duschek, 2004) và tạo nên hiệu suất mới trong kết quả hoạt động của từng bên trong mối quan hệ đó (Mesquita, Anand và Brush, 2008).

Weiland và Wallenburg (2012) cho rằng nguồn lực mối quan hệ có thể ảnh hưởng đến các thành viên trong hệ thống và có thể gia tăng hiệu quả hoạt động. Khả năng mối quan hệ có thể dựa trên 3 yếu tố: thông tin, hợp tác và tích hợp lẫn nhau. Hiện nay đã có một xu hướng ngày càng tăng cho các tổ chức để tạo ra mối quan hệ với bên ngoài để chia sẻ thông tin, từ đó có thể có được những thông tin rõ ràng.

Mesquita và ctg (2008), Weiland và Wallenburg (2012) thừa nhận và đồng ý rằng nguồn lực mối quan hệ có thể giúp các bên liên quan đạt được một lợi thế cạnh tranh mới trong quan hệ đối tác, và thường rơi vào 4 thể loại: (1) đầu tư vào các tài sản liên quan cụ thể; (2) lượng kiến thức trao đổi được là đáng kể, bao gồm cả trao đổi kiến thức mà kết quả cùng tham gia học tập; (3) việc kết hợp bổ sung những nguồn lực hoặc khả năng hiện đang khan hiếm, mà kết quả là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ mới độc đáo; và (4) chi phí giao dịch thấp hơn do cơ chế quản trị hiệu quả hơn.

Khi các bên liên quan sẵn sàng tạo mối quan hệ thông qua những giao dịch cụ thể, các nguồn lực đặc biệt mà họ chú ý đưa vào thường là (1) vị trí, đặc biệt liên quan đến các điểm sản xuất, cung cấp dịch vụ là gần nhau; (2) tài sản vật lý, đặc biệt liên quan đến những máy móc, công cụ, trang thiết bi đặc biệt và (3) tài sản con người, đặc biệt liên quan đến sự hiểu biết cụ thể được tích lũy bởi giao dịch viên thông qua các mối quan hệ lâu dài, phát triển các kinh nghiệm làm việc với nhau và tích lũy thông tin chuyên ngành, ngôn ngữ, và sự hiểu biết (Dyer và Singh, 1998).

Nghiên cứu của Østerlund và Carline (2003) về việc chia sẻ kiến thức trong mối quan hệ liên quan là cầu nối giữa những kiến thức chủ quan và cấu trúc khách quan, làm mờ đi các ranh giới, giúp xác định nguồn lực của mối quan hệ. Việc chia sẻ kiến thức thông qua các mối quan hệ giúp giải quyết sự phụ thuộc lẫn nhau, mỗi bên phải thay đổi lượng kiến thức của mình, chuyển các kiến thức ngầm thành kiến thức rõ ràng để chia sẻ lẫn nhau, từ đó làm giảm đi sự khác biệt và sự phụ thuộc.

Với lý thuyết dựa vào nguồn lực đã nêu, điểm đến cần kiểm toán các nguồn lực hữu hình và vô hình, nguồn lực kiến thức và nguồn lực mối quan hệ liên quan để xây dựng kế hoạch huy động, phát triển các nguồn lực có được từ bên trong và phối hợp từ bên ngoài nhằm nắm bắt những cơ hội phát triển tốt hơn.