Lý thuyết lợi thế địa điểm riêng là gì?

Nhà kinh tế học người Anh, John Dunning, cho rằng, bên cạnh rất nhiều các nhân tố được bàn luận ở trên, những lợi thế về địa điểm riêng cũng có thể giúp lý giải bản chất và hướng của hoạt động FDI. Theo Dunning, lợi thế địa điểm riêng là những lợi thế nảy sinh từ việc sử dụng các nguồn lực hoặc tài sản sẵn có gắn liền với một địa điểm cụ thể ở nước ngoài và cũng là những lợi thế có giá trị khi công ty kết hợp chúng với các tài sản riêng có của mình (ví dụ như các bí quyết công nghệ, marketing hoặc quản lý của công ty). Dunning thừa nhận quan điểm về của lý thuyết nội bộ hoá cho rằng thất bại thị trường khiến cho một công ty khó tiến hành lixăng các tài sản riêng của mình (bí quyết). Do đó, theo ông, sự kết hợp những tài sản hay nguồn lực gắn với một địa điểm với những tài sản riêng của công ty thông thường đòi hỏi công ty phải tiến hành hoạt động FDI. Để có được sự kết hợp đó, công ty phải thiết lập các cơ sở sản xuất ở nơi có các tài sản hay nguồn lực đó. (Dunning đã gọi đây là mô hình chiết trung).

Một trong những ví dụ điển hình minh chứng cho lập luận của Dunning là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏ và các loại khoáng sản khác. Đây là những nguồn lực thuộc về những địa điểm nhất định. Dunning đã gợi ý rằng một công ty cần phải tiến hành FDI để khai thác được những tài sản nước ngoài đó. Chính điều này đã lý giải tại sao hoạt động FDI đã được tiến hành bởi rất nhiều các công ty dầu mỏ trên thế giới, vốn là những công ty phải đầu tư vào những nơi có nguồn dầu mỏ để từ đó kết hợp được những kiến thức về công nghệ và quản lý của mình với những nguồn lực có giá trị đó. Một ví dụ khác đó là nguồn nhân lực có giá trị, cụ thể như nguồn lao động có kỹ năng cao với mức chi phí thấp. Chi phí và kỹ năng của lao động ở mỗi nước là khác nhau. Chính bởi  nguồn lao động này không được coi là nguồn lực di chuyển trên phạm vi quốc tế cho nên, theo Dunning, việc các công ty đặt các cơ sở sản xuất của mình ở những nơi mà chi phí và kỹ năng của người lao động địa phương phù hợp nhất với quy trình sản xuất cụ thể của mình là hợp lý.

Tuy nhiên, những gợi ý trong lý thuyết của Dunning vượt ra ngoài những nguồn lực cơ bản như nguồn tài nguyên khoáng sản hay nguồn lao động. Chúng ta hãy xem xét trường hợp của Silicon Valley – trung tâm của ngành công nghiệp máy tính và bán dẫn trên thế giới. Rất nhiều các công ty máy tính và bán dẫn lớn trên  thế giới như Apple Computer, Applied Materials và Intel đã có mặt ở ngay bên cạnh nhau trong khu vực Silicon Valley ở California này. Vì lẽ đó, hầu hết những hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm quan trọng trong ngành máy tính và bán dẫn đã diễn ra ở đây. Theo lập luận của Dunning, kiến thức về thiết kế và sản xuất máy tính cũng như các sản phẩm bán dẫn được tạo ra ở Silicon Valley không có ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Khi được thương mại hoá, các kiến thức này lan truyền trên khắp các nơi, thế nhưng địa điểm hàng đầu về việc tạo ra những kiến thức trong ngành máy tính và sản phẩm bán dẫn vẫn là Silicon Valley. Theo ngôn ngữ của Dunning, điều này có nghĩa là Silicon Valey có lợi thế địa điểm riêng trong việc tạo ra những kiến thức liên quan tới ngành máy tính và bán dẫn. Lợi thế này một phần bắt nguồn từ sự tập trung nguồn lực trí tuệ ở mức độ cao và một phần từ mạng lưới liên lạc phi chính thức cho phép các công ty được hưởng lợi từ quá trình tạo ra kiến thức mới của nhau. Các nhà kinh tế học gọi các “tác dụng tràn” kiến thức đó là các nhân tố ngoại vi và theo một lý thuyết có uy tín khác thì các công ty có thể được hưởng lợi từ những nhân tố ngoại vi này khi đặt địa điểm gần với nguồn sinh ra chúng.

Trong trường hợp này, việc các công ty máy tính và bán dẫn nước ngoài đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và (có thể) các cơ sở sản xuất tại đây là có lý. Các công ty này có thể tìm hiểu và tận dụng những kiến thức mới có giá trị trước những công ty có trụ sở tại nơi khác và nhờ đó có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.26 Các dẫn chứng cho thấy các công ty máy tính và bán dẫn của Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đang tiến hành đầu tư vào khu vực Silicon Valley bởi vì họ mong muốn được hưởng lợi từ những nhân tố ngoại vi nảy sinh tại đây. Một số khác cho rằng chính mong muốn tiếp cận được với kiến thức công nghệ mang tính chất địa điểm riêng của các công ty công nghệ sinh học của Hoa Kỳ đã thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp của các công ty nước ngoài vào ngành này ở Hoa Kỳ. Do đó, lý thuyết của Dunning dường như là một sự bổ sung hữu ích cho những học thuyết được đề cập ở trên, vì nó giúp lý giải cách thức các nhân tố địa điểm ảnh hưởng tới hướng của FDI.