Lý thuyết nền tảng ứng dụng trong nghiên cứu hệ thống Báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp doanh nghiệp

Lý thuyết thông tin hữu ích

* Nội dung lý thuyết thông tin hữu ích

Báo cáo kế toán mục đích chính là cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng. Các thông tin trên BCKT phải có tích hữu ích đối với nhu cầu sử dụng thông tin của người sử dụng. Do vậy việc xây dựng hệ thống báo cáo kế toán phải dựa trên nền tảng là tính hữu ích của thông tin kế toán.

Luận án tiếp cận dựa trên lý thuyết nền về tính hữu ích của thông tin nhằm xây dựng hệ thống BCKT thỏa mãn mức cao nhất nhu cầu sử dụng thông tin của người sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài DN.

Những vấn đề liên quan đến đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích đã được các nhà nghiên cứu đề cập từ nhiều năm qua. Theo một kết quả một nghiên cứu của Lev and Zarowin (1999), hệ thống đo lường và BCKT không đáp ứng tốt sự thay đổi đang tác động sâu sắc đến hoạt động kinh doanh và giá trị thị trường của DN, và đó là nguyên nhân chính giải thích cho sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính.

Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin tài chính được thiết lập dựa trên các giả thiết:

  • Luôn tồn tại sự mất cân đối về mặt thông tin giữa người lập BCTC và người sử dụng thông tin.
  • Nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán là không được xác định trước và cần được xác định thông qua các dẫn chứng thực tế.
  • Việc đáp ứng thông tin của người sử dụng được thực hiện thông qua những bên có lợi ích liên quan đến tình hình tài chính của DN.
  • Tính hữu ích của thông tin cần được đánh giá trong mối tương quan lợi ích – chi phí khi thực hiện công việc kế toán.

Do đặc điểm mất cân đối về mặt thông tin giữa các đối tượng bên trong và bên ngoài DN, những đối tượng bên ngoài luôn có xu hướng dựa vào thông tin kế toán như một tài liệu quan trọng cho việc ra quyết định kinh tế. Cung cấp thông tin được xây dựng trên nền tảng tính hữu ích của thông tin tài chính đối với các đối tượng sử dụng thông tin của DN: nhà đầu tư, ngân hàng và các chủ nợ. Lý thuyết thông tin hữu ích được coi là nền tảng của các chuẩn mực kế toán quốc tế. Lý thuyết này làm sáng tỏ mục đích của hoạt động kế toán trong nền kinh tế thị trường và là mục tiêu xây dựng Báo cáo kế toán nhằm thỏa mãn thông tin của người sửa dụng.

Như vậy, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích theo quan điểm của IASB và FASB có thể được khái quát tại Bảng 1.1

Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực BCTC quốc tế, Hệ thống BCTC được xây dựng theo lý thuyết tính hữu ích của thông tin, Căn cứ vào sự tồn tại của tính mất cân đối của thông tin giữa người cung cấp thông tin và người sử dụng thông tin cùng với nhu cầu sử dụng thông tin. Lý thuyết thông tin hữu ích đã được áp dụng bởi những người soạn thảo ra các chuẩn mực kế toán như, IASB và FASB. Năm 1978, FASB đã ban hành thông báo khái niệm Kế toán tài chính số 01 “Mục tiêu của Báo cáo tài chính đối với các DN” (FASB, 1978). Tài liệu này đã nhấn mạnh lý do tại sao lý thuyết tính hữu ích được FASB sử dụng. Ví dụ, SFAC số 1 đã khẳng định vai trò của BCTC trong nền kinh tế là cung cấp các thông tin hữu ích cho quyết định kinh tế và kinh doanh, chứ không phải xem xét quyết định nào được lựa chọn. Báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin khách quan, không sai lệch.

Lý thuyết thông tin hữu ích được coi là nền tảng của các chuẩn mực kế toán quốc tế. Lý thuyết này làm sáng tỏ mục đích của hoạt động kế toán trong nền kinh tế thị trường và là kim chỉ nam cho việc xây dựng các chỉ tiêu và các thông tin tài chính trên hệ thống BCTC. Lý thuyết thông tin hữu ích tạo ra nền tảng phương pháp luận với việc xây dựng hệ thống các quy định về kế toán và kiểm toán. Đây này là đặc biệt quan trọng trong điều kiện của những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, khi các công cụ quản lý kinh doanh trước đây được hiểu là phục vụ cho sự quản lý của nhà nước hơn là các ngân hàng, người cho vay, nhà cung cấp, khách hàng và công chúng. Lý thuyết này là cơ sở để đánh giá hiệu quả tác dụng của việc sử dụng thông tin cho các quyết định quản lý chứ không đơn thuần là để phục vụ cho yêu cầu của pháp luật. Ngoài ra, lý thuyết thông tin hữu ích giúp người sử dụng thông tin khác nhau có được những đánh giá khách quan về chất lượng thông tin trên BCTC của DN.