Lý thuyết nguồn lực về quan hệ liên quan (Relational View)

Lý thuyết phân tích mạng lưới xã hội xem xét mối quan hệ dựa trên các nút và các mối quan hệ. Nút là một cấu trúc xã hội của cá nhân (hay tổ chức), kết nối với mạng lưới bằng một hay nhiều sự phụ thuộc lẫn nhau. Theo quan hệ liên quan, nút được thay bằng các nguồn hành động của cá nhân hay tổ chức và kết nối mạng trong các quan hệ xã hội và quan hệ hợp đồng. Với kết nối mạng, chất lượng của các nguồn lực dựa vào chất lượng của quá trình tương tác và quan hệ của các nguồn lực mà các bên liên quan đưa vào hệ thống (Das và Teng, 2000; Duschek, 2004) và tạo nên hiệu suất mới trong kết quả hoạt động của từng bên trong mối quan hệ đó (Mesquita, Anand và Brush, 2008).

Weiland và Wallenburg (2012) cho rằng nguồn lực mối quan hệ có thể ảnh hưởng đến các thành viên trong hệ thống và có thể gia tăng hiệu quả hoạt động. Khả năng mối quan hệ có thể dựa trên 3 yếu tố: thông tin, hợp tác và tích hợp lẫn nhau. Hiện nay đã có một xu hướng ngày càng tăng cho các tổ chức để tạo ra mối quan hệ với bên ngoài để chia sẻ thông tin, từ đó có thể có được những thông tin rõ ràng.

Mesquita và ctg (2008), Weiland và Wallenburg (2012) thừa nhận và đồng ý rằng nguồn lực mối quan hệ có thể giúp các bên liên quan đạt được một lợi thế cạnh tranh mới trong quan hệ đối tác, và thường rơi vào 4 thể loại: (1) đầu tư vào các tài sản liên quan cụ thể; (2) lượng kiến thức trao đổi được là đáng kể, bao gồm cả trao đổi kiến thức mà kết quả cùng tham gia học tập; (3) việc kết hợp bổ sung những nguồn lực hoặc khả năng hiện đang khan hiếm, mà kết quả là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ mới độc đáo; và (4) chi phí giao dịch thấp hơn do cơ chế quản trị hiệu quả hơn.

Khi các bên liên quan sẵn sàng tạo mối quan hệ thông qua những giao dịch cụ thể, các nguồn lực đặc biệt mà họ chú ý đưa vào thường là (1) vị trí, đặc biệt liên quan đến các điểm sản xuất, cung cấp dịch vụ là gần nhau; (2) tài sản vật lý, đặc biệt liên quan đến những máy móc, công cụ, trang thiết bi đặc biệt và (3) tài sản con người, đặc biệt liên quan đến sự hiểu biết cụ thể được tích lũy bởi giao dịch viên thông qua các mối quan hệ lâu dài, phát triển các kinh nghiệm làm việc với nhau và tích lũy thông tin chuyên ngành, ngôn ngữ, và sự hiểu biết (Dyer và Singh, 1998).

Nghiên cứu của Østerlund và Carline (2003) về việc chia sẻ kiến thức trong mối quan hệ liên quan là cầu nối giữa những kiến thức chủ quan và cấu trúc khách quan, làm mờ đi các ranh giới, giúp xác định nguồn lực của mối quan hệ. Việc chia sẻ kiến thức thông qua các mối quan hệ giúp giải quyết sự phụ thuộc lẫn nhau, mỗi bên phải thay đổi lượng kiến thức của mình, chuyển các kiến thức ngầm thành kiến thức rõ ràng để chia sẻ lẫn nhau, từ đó làm giảm đi sự khác biệt và sự phụ thuộc.

Với lý thuyết dựa vào nguồn lực đã nêu, điểm đến cần kiểm toán các nguồn lực hữu hình và vô hình, nguồn lực kiến thức và nguồn lực mối quan hệ liên quan để xây dựng kế hoạch huy động, phát triển các nguồn lực có được từ bên trong và phối hợp từ bên ngoài nhằm nắm bắt những cơ hội phát triển tốt hơn.