Lý thuyết phát triển bền vững và lý thuyết bộ ba cốt lõi bền vững

Phát triển bền vững

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” hay “Phát triển lâu bền” (Sustainable development) ra đời từ những năm 1970. Phát triển bền vững là sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học, cùng với sự phát triển kinh tế (theo hội nghị Môi trường toàn cầu Rio de Janeiro tháng 06, năm 1992). Phát triển bền vững được đánh giá  trên ba nhân tố: kinh tế bền vững; xã hội bền vững; môi trường bền vững.

Phát triển bền vững là quá trình phát triển kinh tế mà không  gây ảnh hưởng đáng kể và không thể đảo ngược cuộc sống của con người môi trường, hòa hợp các quy luật tự nhiên và pháp luật của nền kinh tế (Kozłowski, 1994). Chiến lược phát triển bền vững là nền tảng cho trách  nhiệm trong kinh doanh hiện đại. Thực hiện ý tưởng phát triển bền vững là tìm kiếm các giải  pháp cho các hoạt động kinh doanh có trách nhiệm xã hội, thân thiện với môi trường và cùng một lúc, có giá trị kinh tế (Rok, 2008). Khái niệm về phát triển bền vững bao gồm nhiều hơn chỉ là sự tôn trọng môi trường tự nhiên. Không thể bảo vệ môi trường tự nhiên mà không có sự tôn trọng đồng thời đối với luật pháp địa phương, nguyên tắc dân chủ và sự tham gia vào sự phát triển của xã hội dân sự hoặc theo đuổi xóa đói giảm nghèo. Do đó niềm tin rằng một chiến lược phát triển hiệu quả cho một công ty cần bao gồm các khía cạnh kinh tế, sinh thái và xã hội đến một  mức độ bình đẳng (Rok, 2010). Cụ thể, như sau:

Về nhân tố kinh tế bền vững: nhân tố kinh tế giữ vai trò quan trọng đặc biệt trong phát triển bền vững. Kinh tế bền vững yêu cầu lựa chọn phương án có hiệu quả nhất và cần cân nhắc những ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế hiện tại trong tương.

Quá trình phát triển phải đảm bảo cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Lý thuyết bộ ba cốt lõi bền vững (TBL: triple-bottom line theory)

 Một trong những nền tảng của CSR là khái niệm về TBL, kết quả từ mô hình phát triển bền vững và dựa trên việc  tìm kiếm sự cân bằng giữa ba yếu tố: kinh tế, sinh thái và đạo đức (Reichel và Oczyp, 2011). Khái niệm TBL được John Elkington sử dụng lần đầu tiên vào năm 1994 và được mở rộng và giải thích kỹ lưỡng vào năm 1998.

Lập luận của Elkington (1994) là các công ty nên chuẩn bị ba yếu tố cốt  lõi riêng biệt. Một là thước đo truyền thống về lợi nhuận doanh nghiệp. Thứ hai là “người” của một công ty – một thước đo về trách nhiệm xã hội của một tổ chức trong suốt quá trình hoạt động của nó. Thứ ba là “hành tinh” của công ty – một thước đo về trách nhiệm môi trường mà nó đã được.

TBL cùng với sự phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự kết hợp của ba yếu tố: con người, hành tinh và lợi nhuận. Lý thuyết TBL được sử dụng nhằm mục đích kiểm định và phản ảnh hiệu quả của doanh nghiệp ở ba yếu tố: kinh tế, môi  trường  và  xã  hội. Khi đó, hiểu theo nghĩa hẹp  thì TBL là một khung phân tích về kế toán để đo lường và lập  báo cáo về hoạt  động của doanh nghiệp về cả ba  phương  diện  là  kinh  tế,  xã hội và môi trường  để khuyến khích các tổ chức kết hợp  tính bền vững vào thực tiễn kinh doanh của họ (Elkington, 1997; Sustain Ability, 2010; The Economist, 2009;  Lam,  2016). Khi doanh nghiệp đáp ứng được đồng đều cả phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường của mình thì doanh nghiệp đó được xem là bền vững (Hart và cộng sự, 2003).

Theo đó, các doanh nghiệp vừa phải đảm bảo lợi nhuận về kinh tế và vừa phải củng cố được lợi ích về xã hội và bảo vệ môi trường lâu bền. Hiệu suất của doanh nghiệp trong mỗi yếu tố thể hiện cam kết tương ứng của họ đối với các bên liên quan, môi trường tự nhiên và lợi nhuận kinh tế của họ. Nó cho thấy rằng mối quan hệ giữa yếu tố phải đạt được một sự cân bằng để tối đa hóa lợi ích tiềm năng trong mỗi thành phần. Sự chú ý của doanh nghiệp đối với các vấn đề xã hội có thể mang lại lòng trung thành của khách hàng (John Elkington, 1998). Ông mạnh mẽ khẳng định rằng trong thế giới kinh doanh phức tạp, nếu doanh nghiệp bỏ qua  công bằng xã hội và chất lượng môi trường, cách  mạng văn hóa toàn  cầu thì sự liên kết của những yếu tố này với yếu tố tài chính có thể dẫn đến sự sụp đổ của chính doanh nghiệp đó. Hơn nữa, tính  bền vững về kinh tế của một doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào khả năng đồng thời kết hợp các giá trị công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa vào các giá trị thực tiễn của doanh nghiệp để mang lại lợi nhuận tổng thể cao hơn.

Càng nhiều tập đoàn và ban lãnh đạo doanh nghiệp hiểu được trách nhiệm của họ đối với các tiêu chuẩn TBL, thì doanh nghiệp càng có nhiều khả năng sống sót trong quá trình chuyển đổi sang một tương lai bền vững (Elkington, 1998). TBL còn có tiềm năng để chứng minh cho các tập đoàn, về mặt thuận lợi, trách nhiệm xã hội và môi trường là các yếu tố liên quan trong báo cáo tài chính của họ và việc đưa nó vào có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp (Dixon, 2014).

Nói tóm lại, TBL là một khung nguyên tắc kế toán nhằm vượt  ra  ngoài cách đo lường lợi nhuận truyền thống, nó báo cáo kết quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua hiệu quả xã hội và môi trường. Nó nêu sự cần thiết là phải xem xét ngoài kế toán tài chính thì khuyến khích các doanh nghiệp cân nhắc đến việc tác động đến môi trường và xã hội. Thách thức chính của mô hình nằm trong việc định lượng chi phí, lợi ích thực sự của trách nhiệm xã hội và môi trường  (Elkington, 1998).

Theo kết quả nghiên cứu của Eberhard-Harribey (2006) thì CSR phản ánh mong muốn của các bên liên quan về phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Lý thuyết TBL đặt ra những nguyên tắc  để  đánh  giá  thành tựu CSR. Nó đồng thời cũng thể hiện mức độ cam kết thực  hiện  CSR  (Elkington, 1997). Bên cạnh đó, khách hàng hoàn toàn có thể phân biệt được ba nhân tố cấu thành: trách nhiệm kinh tế, xã hội và môi trường trong khái niệm CSR (Kale và Singh, 2007; Alvarado-Herrera và cộng sự, 2017).

Nhà sản xuất và phân phối hàng hóa cho siêu thị bán lẻ tổng hợp và các siêu thị bán lẻ tổng hợp đều có nhận thức  khá tốt và có nhiều hoạt động CSR để đáp ứng được yêu cầu của luật pháp, của các tiêu chuẩn ISO, của nhu cầu của  khách hàng. Đồng thời, các doanh nghiệp này ngày càng chú trọng đến phát triển bền vững và mô hình TBL được các  doanh  nghiệp  này  áp dụng. Từ những lập luận trên, ta đưa ra được kết luận: lý thuyết TBL được áp dụng để xây dựng lý  thuyết CSR.