Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay các “cực tăng trưởng”

Các nhà kinh tế học như A. Hirschman, F. Perrons, G. Destanne De Bernis… là những người đưa ra lý thuyết này. Họ cho rằng phát triển đồng thời tất cả các ngành cùng một lúc là không thể được bởi sự hạn chế của các nhân tố như lao động, vốn, kỹ thuật và công nghệ, dung lượng thị trường… Đồng thời, họ còn đưa ra những lập luận về lợi thế do sự phát triển cơ cấu ngành không cân đối mang lại, đó là:

Thứ nhất, việc phát triển cơ cấu ngành không cân đối gây nên áp lực, tạo ra sự kích thích đầu tư. Họ lập luận rằng, “nếu như tất cả các ngành, cung bằng cầu thì sẽ triệt tiêu động lực kích thích đầu tư nâng cao năng lực sản xuất. Do đó, nếu có những dự án to lớn đầu tư vào một số lĩnh vực thì áp lực đầu tư sẽ xuất hiện bởi cầu lớn hơn cung lúc đầu và sau đó thì cung lớn hơn cầu ở một số lĩnh vực khác, nên chính những dự án đó sẽ có tác dụng lôi kéo đầu tư theo kiểu mô hình số nhân” (Bùi Tất Thắng, 1993, trang 26).

Thứ hai, việc đưa ra khái niệm “cực tăng trưởng” với ý nghĩa là những ngành, những lĩnh vực đầu tàu, lôi kéo toàn bộ nền kinh tế phát triển. Cho nên, điều cần thiết là phải chọn lọc những lĩnh vực trong mỗi thời điểm nhất định để tập trung được số nguồn lực khan hiếm sẵn có. Họ cho rằng, việc hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế sẽ cho phép lựa chọn và xác định các “cực tăng trưởng” đối với từng nền kinh tế quốc dân riêng biệt. Tác dụng lan tỏa của những cực tăng trưởng có thể hướng mạnh về phía trước hoặc là về phía sau của quá trình sản xuất.

Sự thành công của quá trình CNH ở các nước NICs đã làm cho lý thuyết này được thừa nhận một cách rộng rãi. Lý thuyết này gắn với lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo nhằm xác định “cực tăng trưởng” của từng quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế.