Lý thuyết về tài nguyên thiên nhiên đối với thương mại quốc tế của Eli Heckkchers – Bertil Ohlin (H-O)

Trong nền kinh tế hàng hoá vận hàng theo cơ chế thị trường, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, tất nhiên, cũng trở thành hàng hoá. Nguyên lý của lý thuyết của H-O được phát biểu: một số quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng tương đối nhiều các yếu tố đầu vào sẵn có và rẻ. Họ sẽ nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần những các yếu tố đầu vào khan hiếm và đắt. Nói cách khác, thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy các quốc gia xuất khẩu những yếu tố đầu vào tương đối sẵn có và rẻ dưới hình thức những sản phẩm hàng hoá khác hoặc xuất khẩu trực tiếp những yếu tố đó. Quá trình đó đã làm tăng lượng cầu về những yếu tố sẵn có và rẻ, do vậy, giá của những yếu tố này sẽ được đẩy dần lên. Đồng thời, việc nhập khẩu những yếu tố khan hiếm và đắt, dù là trực tiếp hay gián tiếp dưới dạng hàng hoá khác, sẽ góp phần kéo được giá của những yếu tố này và những sản phẩm có liên quan xuống dần.

Như vậy, xét về xu hướng, thương mại quốc tế sẽ góp phần san bằng chênh lệch về giá cả những yếu tố đầu vào của sản xuất những hàng hoá tiêu dùng cuối cùng. Quá trình đó đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc tế nói chung. Về thực chất, lý thuyết H-O là sự cụ thể hoá lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith cũng như lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ruardo không chỉ đối với hàng hoá tiêu dùng, mà còn cả đối với các yếu tố vật tư đầu vào của quá trình sản xuất. Điều này, giúp cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô có được cái nhìn toàn diện hơn về tiềm năng cũng như hạn chế trong khả năng xuất khẩu của mỗi quốc gia. Đối với các doanh nghiệp, việc phân tích khả năng xuất khẩu cần phải được phân tích, đánh giá ở tất cả các khâu, các sản phẩm có liên quan. Trong đó, các yếu tố đầu vào của sản xuất rất cần được xem xét chu đáo.

Lý thuyết của H-O dựa trên hai giả định quan trọng sau đây:

Thứ nhất, việc sản xuất các sản phẩm khác nhau sẽ cần các yếu tố đầu vào với tỷ lệ khác nhau. Thí dụ mà thuyết này thường nêu ra là, so sánh việc sản xuất ô tô ở các nước phát triển với việc sản xuất lương thực, thực phẩm ở các nước chậm phát triển. Tỷ lệ các yếu tố đầu vào mà thuyết này so sánh là tỷ lệ giữa các lao động và vốn. Theo lý thuyết H-O, việc sản xuất ô tô sẽ tốn nhiều vốn hơn là lao động, và ở các nước phát triển yếu tố vốn được coi là sẵn có và rẻ, trong khi lao động được coi là yếu tố khan hiếm và đắt. Trong khi đó, việc sản xuất các loại nông sản thường tốn ít vốn hơn là lao động, và ở các nước chậm phát triển vốn được coi là yếu tố khan hiếm, còn lao động được coi là yếu tố tương đối sẵn có và rẻ. Do vậy, các nước chậm phát triển nên sản xuất và xuất khẩu nông sản sang các nước phát triển, ngược lại, các nước phát triển sẽ sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp để nhập khẩu nông sản.

Thứ hai, các quốc gia khác nhau thường có những yếu tố sẵn có khác nhau. Một số quốc gia như Đức, Mỹ có tỷ số vốn/lao động rất cao, trong khi những quốc gia khác, như ấn Độ chẳng hạn, lại có tỷ số đó rất thấp. Điều này có nghĩa là, Mỹ thì sẵn có và dư thừa vốn, thiếu lao động; ngược lại, ấn Độ lại khan hiếm vốn và thừa lao động. Do vậy, trong quan hệ thương mại, Mỹ nên sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cần nhiều vốn, còn ấn Độ nên sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cần nhiều lao động.