Lý thuyết về vòng đời sản phẩm là gì?

Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon được mô tả ở phần đầu chương này cũng được sử dụng  để lý giải cho hoạt động FDI. Theo Vernon, thông thường chính những công ty tiên phong cung cấp một sản phẩm ở thị trường nội địa cũng tiến hành hoạt động FDI để sản xuất sản phẩm tiêu dùng ở thị trường nước ngoài. Ví dụ như Xerox là công ty đầu tiên giới thiệu sản phẩm máy photo ở Hoa Kỳ và cũng chính Xerox đã xây dựng các nhà máy sản xuất ở Nhật (Fuji-Xerox), Anh (Rank-Xerox) để cung cấp cho những thị trường này. Theo quan điểm của Vernon, các công ty tiến hành FDI ở những giai đoạn cụ thể trong vòng đời của một sản phẩm mà họ là nhà cung cấp đầu tiên. Các công ty này sẽ đầu tư vào những nước tiên tiến khác khi nhu cầu nội địa ở những nước đó tăng lên đủ lớn để khuyến khích hoạt động sản xuất trong nước (giống như trong trường hợp Xerox đã đầu tư). Sau đó, họ chuyển hoạt động sản xuất sang các nước đang phát triển khi sự tiêu chuẩn hoá sản phẩm và sự bão hoà của thị trường làm gia tăng áp lực chi phí và sự cạnh tranh về giá. Lúc đó, hoạt động đầu tư vào các nước đang phát triển, nơi có mức chi phí lao động thấp hơn, được coi là cách thức đầu tư để giảm chi phí tốt nhất.

Lý thuyết của Vernon cũng có những đóng góp nhất định. Các công ty tiến hành đầu tư vào một nước khác khi nhu cầu của nước này tạo điều kiện khuyến khích hoạt động sản xuất nội địa, đồng thời họ cũng đầu tư vào những địa điểm có chi phí thấp (ví dụ như vào các nước đang phát triển) khi áp lực về chi  phí gia tăng. Tuy nhiên, lý thuyết của Vernon đã không lý giải được tại sao trong những trường hợp đó việc tiến hành FDI mang lại khả năng sinh lợi cho công ty hơn hoạt động xuất khẩu hàng hoá hay lixăng sản xuất sản phẩm cho một công ty ở nước ngoài. Nếu chỉ bởi vì nhu cầu ở nước nhận đầu tư đủ lớn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất nội địa, thì cũng không thể khẳng định rằng việc đầu tư sản xuất là lựa chọn có khả năng sinh lợi cao nhất. Trên thực tế, việc sản xuất ở nước chủ nhà và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài vẫn có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho công ty (thông qua tận dụng lợi thế về quy mô – lợi thế hình thành khi công ty cung cấp sản phẩm phục vụ thị trường toàn cầu từ một địa điểm sản xuất). Ngoài ra, công ty cũng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn khi lixăng cho một công ty nước ngoài để sản xuất ra sản phẩm nhằm tiêu thụ trên thị trường nước đó. Lý thuyết vòng đời sản phẩm đã bỏ qua những lựa chọn này mà thay vào đó chỉ đơn giản cho rằng khi thị trường của một nước có dung lượng đủ lớn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất ở nước đó thì hoạt động FDI sẽ diễn ra. Chính điều này đã làm giảm khả năng lý giải và áp dụng của lý thyết này đối với hoạt động kinh doanh vì nó không xác định được rõ khi nào việc đầu tư ra nước ngoài là có lợi cho các công ty đầu tư.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • vòng đời sản phẩm là gì
  • ,