Mô hình điều tiết của nhà nước tư sản hiện đại


1. Quá trình hình thành hẹ thống điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản

1.1. Cơ chế thi trường trong chủ nghĩa tư bản hiện đại

Cơ chế thi trường là cơ chế vận động của nền sản xuất hàng hoá, nó ra dời và phát triển cùng nền sản xuất hàng hoá trong lịch sử. Nó đã tạo ra trong nền sản xuất xã hội những hình thức sản xuất, lưu thông hàng hoá ngày một hoàn thiện bằng cách đào thải, loại bỏ những hình thức nỗi thời, yếu kém, gạn lọc lựa chọn và giữa lại những hình thức phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội .

Cơ chế thị trường là sự thể hiện của quy luật giá trị là bề mặt của nền sản xuất xã hội . Quy luật này được xem là trung tâm điều chỉnh kinh tế vô hình nhưng đầy quyền lực và hiện thực, trong đó giá cả thị trường được xem là công cụ điều chỉnh kinh tế chủ yếu của cơ chế hti trường. Hoạt động của cơ chế thị truờng diễn ra sau lưng những người sản xuất kinh doanh, song nó lai  đưa ra những tín hiệu trện thị trường, làm cho các chủ thể kinh tế kịp thời đưa ra những giải pháp để giảm bớt chi phí sản xuất, nâng cao chát lượng hoặc thay đổi mẫu mã và dịch vụ.
Khi quy mô tích tụ và tập trung tư bản trong mỗi chủ thể hoạt động trên thị trường đã đạt tới một mức độ cao thì do nguyên nhân tự phát của cơ chế thi trường vì vậy mà bổ sung vào hệ thống điều chỉnh tái sản xuất xã hội cơ chế điều tiết đốc quỳên tư bản là một khách quan do yêu cầu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

1.2.Cơ chế độc quyền trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại

Ta biêt rằng, khi quá trình tích tụ và tập trung tư bản đạt tới một đôộ cao, thì sở hữu tư bản và sử dụng tư bản tách rời nhau, tạo điều kiện cho tư bản tài chính ra đời và trở thành hình thức phỏ biến trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đẳc trưng kết cấu độc quyền của tư bản tài chính là tập đoàn kinh tế khổng lồ thông qua chế đọ tham dự tư bản tài chính đã cuốn hút ngày càng nhiều chủ thể kinh tế hoạt động riêng lẻ ở tất các khâu của quá trình tái sản xuất vào guồng máy khống chế của mình. Như vậy độc quyền tư nhân đã thu hẹp và làm giảm bớt tính biệt lập trong hoạt động của các chủ thể thị trường, nhưng lại làm tăng thêm tính ác liệt và sức cạnh tranh len cao hơn và do đó gây ra sự sụp đô vỡ nặng nề hơn, nhanh chóng đẩy nền kinh tế lâm vào khủng hoảng cơ cấu và tình trạng phá sản của các tập đoàn lớn.

1.3. Mâu thuẫn trong hoạt động của cơ chế thị trường, cơ chế độc quyền là sự suất hiện hệ thống điều tiết của nhà nước Tư Sản.

Trong sự điều tiết kinh tế do có sự điều tiết đồng thời của hai cơ chế : độc quyền và thị trường đã làm cho quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa buộc phải vận động dưới sự khống chế của hai nguyên tắc trái ngược nhau :tự do và độc đoán. Một mặt độc quyền không ngừng bành trướng và mở rộng sự khống chế cảu mình đới với từng mảng rộng của thị trường. Mặ khác cơ chế thọi trường như một cơ chế vận động tự nhiên cucả nền sản xuất hàng hoá, tự mở đường vượt qua các nguyên tắc của độc quyền, thúc đẩy nền sản xuất vận động thoe yêu cầu của các quy luật thị trường. Sự xung đột và mâu thẫun đó không chỉ làm giảm hiệu lực điều chỉnh cuả hai cơ chế, mà còn làm lu mờ đi những dấu hiệu tích cực cuả thị trưòng và làm tăng thêm tính gay go của cạnh tranh, đẩy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vào trạng thái phát triển mất cân đối trầm trọng hơn. Trước thực trạng đó, sự can thiệp của nhà nước vào quá trịnh tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là một nhu cầu khách quan nhằm khôi phục lại những mất cân đối, đặc biệt là mặt cân đối có tính cơ cấu, để mở đường cho sức sản xuất phát triển. Nhưng trên giác độ tổng thể :kinh tế, chính trị, xã hội thì độc quyền tư nhân và nhà nước tư bản đã hoà nhập vào nhau tạo thành một khối liên kết chặt chẽ.Đó là sự liên kết sức mạnh của độc quyền với sức mạnh của nhà nước thành một cơ chế thống nhất nhằm làm giàu cho tư bản độc quyền. Nhưng do sự điều tiết của nhà nước chịu áp lực từ nhiều phía, nhiều lực lượng sản xuất do đó nó phải dung hoà được lợi ích của mọi tầng lớp xã hội để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển trong điều kiện xã hội ổn định.

2. Hệ thống điều tiết của nhà nước Tư sản hiện đại.

Hệ thống điều chỉnh kinh tế là tổng thể của những thiết chế của nhà nước được tổ chức chặt chẽ với hệ thống công cụ chính sách có khả năng thực hiện chức năng điều chỉnh đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế xã hội . Nó đã hoà nhập một cách hữu cơ vào cơ ché tái sản xuất tư bản chủ nghĩa tồn tại như một bộ phận thúc đẩy kiểm soát và quản lý toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội băng những công cụ :tiền tệ, giá cả kế koạch, tài chính, tín dụng, chứng khoán.

2.1Nhiệm vụ của hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản hiện đại

Như đã biết, nhiệm vụ kinh tế của nhà nước tư bản hiện đại là đièu chỉnh sự vận động của quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, thúc dẩy, điều tiết và quản lý kinh tế xã hội. Mặt khác do nền kinh tế dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nên nhiệm vụ thúc đây nên kinh tế của nhà nước là hỗ trợvà kích thích khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng của mình vào một mục tiêu nhất định, tức là phải có hướng dẫn kiểm soát uốn nắn bằng cả công cụ kinh tế và pháp luật, tức là bằng cả ưu đãi và trừng phạt hay còn gọi là điều chỉnh kinh tế.
Do hoạt động trong nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường được chấp nhận như môt cơ cấu hữu cơ của hệ thống điểu chỉnh kinh tế của nhà nước, nên sự điều chỉnh của nhà nước chỉ cần tập trung vào những khâu chính yếu có tính quyết định sự vận động của quá trình tái sản xuất. Do đó điều chỉnh của nhà nước chỉ đặt các chủ thể thị trường trước sự lựa chọn chính yếu còn những lựa chọn bình thường do họ tự sáng tạo, tìm kiếm và nó được thị trường phán xét

2.2 Bộ máy điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản hiện đại

Hoạt động điều chỉnh được thực hiện bằng những tổ chức hành pháp mà những tổ chức nay được chia làm hai loại. Một là : Cơ quan hành pháp của chính phủ, vửa làm chức năng hành chính vừa làm chức năng điều chỉnh kinh tế ở tầm tổng thể. Hai là: Những cơ quan điều chỉnh kinh tế do luật định, chuyên trách thanh tra, kiểm soát, uốn nắn hành vi kinh tế của tất cả các chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh theo luật. Bộ máy hành pháp ở các nước tư bản phát triển được tổ chức dưới hai hình thức, các cơ quan điều hành quản lý kinh tế truyền thống và mình uan điều tiết kinh tế. Tại Mỹ, các bộ phận trong chính phủ có liên quan trực tiếp đến quản lý kinh tế là bộ tài chính, y tế, giáo dục và phuc lợi lao động, thương mại, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, nội chính, nhà ở và phát triển đô thị. .vv.

Trong kết cấu bộ máy hành pháp ở các nước tư bản phát triển, người ta còn quan sát thấy sự xuất hiện nhanh chóng của các cơ quan điều tiết kinh tế. Kinh phí hoạt động cuả các cơ quan này do chính phủ cung cấp, nhưng kiển soát việc sử dụng kinh phí lại do quốc hội tiến hành.

2.3 Hệ thống các công cụ và giải pháp điều tiết kinh tế cuả nhà nước tư sản hiên đại

Khu vực sản xuất thuộc sở hữu nhà nước : Trên giác độ kinh tế thì nó là đối tượng diều chỉnh kinh tế, nó thúc đẩy sự vận động của nền kinh tế, nhà nước có thể hướng hoạt động kinh tế vào việc tạo ra môi trường “kinh doanh thuận lợi và cải thiện điều kiện để thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội mà không cần lợi nhuận cao hoạc không mang lại lợi nhuận”. Ví dụ, nhà nước sử dụng nguồn tài chính và các phương tiện đầu tư và xây dựng: đường, cầu, cảng, hệ thống thông tin liên lạc… nhà nước còn mở rộng hoặc thu hẹp khu vực sản xuất của mình để nâng đỡ và hỗ trợ kinh doanh tư nhân, tạo ra một cơ sở ổn định hơn cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nghành dịch vụ quan trọng, như đương sắt, hàng không, bến cảng, truyền thông, nghiên cứu khoa học công nghệ. Nhà nước đầu tư cải tạo kỹ thuật và hiện đại hoá các xí nghiệp của mình để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quá lớn phát triển. Bản thân các xí nghiệp nhà nước không lấy lợi nhuận làm mục đích mà là sự cân đối cả về mặt chất lượng và số lượng.
Tài chính nhà nước, là một phương tiện và công cụ cơ bản nằm trong tay nhà nước, nắm 30-40% thu nhập quốc dân thông qua chức năng tạo nguồn thu cho ngân sách và phân phối lại thu nhập quốc dân, nhà nước đã tác động vào tất cả các khâu của qua trình tái sản xuất xã hội. Công cụ chủ yếu của tài chính là hệ thống thếu và tài trợ nhà nước. Bằn cách định ra các mục tiêu khác nhau và định ra các khoản tài trợ chủ yếu, nhà nước có thể điêu chỉnh dựoc dong đầu tư tư bản, khoa học –công nghệ, điều hoà thu nhập giưa các tầng lớp dân cư…Tại Mỹ, trong vòng 20 năm (1930-1970) đầu tư của nhà nước chiếm khoảng 30% GDP. Tại Cộng Hoà Liên Bang Đức từ 1950-1976 đầu tư của chính phủ trên 20%GDP.

Tiền tệ và tín dụng, trong nền kinh tế thị trương hiện đại, tiền tệ –tín dụng và hệ thống ngân hàng là hệ thần kinh của nền kinh tế, chinh phủ các nước tư bản phát triền nắnm giữ khống chế các ngân hàng trung ương và hệ thống các ngân hàng lớn, đồng thưòi đọc quyền phát hành tiền giấy dã biến hệ thống này thành các phương tiện và cộng cụ để điều chỉnh nền kinh tế. Nhà nước chủ động diều chỉnh khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông bằng ba công cụ mạnh :thay đổi tỷ lệ dự trữ pháp định, tỷ lệ triết khấu và hoạt động thị trường mở. Tại Mỹ, hạn mức tiêng giửi dự trữ pháp định do cục dự trữ liên bang (Fed) điều chỉnh, cục này quy định các khoản tiền giửi của ngân hàng thành viên phải được giữ lại tỷ lệ nhất định làm tiền dự trữ. Năm 1975, Fed quy định các khoản tiền giửi của ngân hàng thành viên từ 2-10 triệu phải trích nộp 10% tiền dự trữ pháp định, 10-100 triêu USD thì nộp 13%.

Trong hoạt động thị trường mở, ỏ thời kỳ kinh tế tiêu điều và khi cần mở rộng tín dụng, các ngân hàng trung ương, các nước mua chứng khoán có mệnh gía và các chứng chỉ có thể chuyển đổi trên thị tiền tệ, còn khi lạm phat tăng lên hoặc cần thắt chặt tín dụng, ngân hang trung ương các nước bán chứng khoán có mệnh giá trên thị trường tiền tệ để thắt chặt tín dụng và ngăn chặn lạm phát.

Giá cả, nhà nước tư bản hiện đại đã sử dụng giá cả như một công cụ chủ yếu trong điều chỉnh kinh tế. Trên bề mặt thị trường, giá cả liên quan chặt chẽ với việc làm và thu nhập của các tầng lớp dân cư, đầu thập niên 80 chính phủ Pháp thi hành chính sách “đồng kết giá cả” triển khai “chính sách ổn định vật giá “, đồng thời quy định mức lương tối thiểu đẻ ổn định thị trường tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. .vv..

Kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trương hiện đại các quan hệ kế hoạch hoá lấy quan hệ thị trường làm đối tượng phản ánh, nhưng các qua hệ thi trường đã được nhận thức, uốn nắn cho phù hợp với sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Trong quá trình điều tiết nhà nước dã khắc phục sự trì trệ do duy trì những tỷ lệ cân đối theo kế hoạch đã lỗi thời và hạn chế tính tự phát do các lực lượng thị trường tác động. Đặc trưng của chương trình và kế hoạch của nhà nước tư bản là không mang tính pháp lệnh đối với các doanh nghiệp, nhất là đối với các xí nghiệp tư nhân. Nó đã định hứơng kinh doanh và nâng đỡ, hỗ trợ tư bản tư nhân ….coi sáng kiến của tư nhân là nguồn lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế.

Các công cụ hành pháp, là cơ quan hành pháp tối cao, nhà nước tư bản ra các văn bản hành chính để tổ chức hướng dãn thi hành đạo luật kinh tế :Luật đầu tư, luật tổ chức xí nghiệp, luật phá sản, luật kiêmr soát lưu thông tiền tệ hàng hoá …Khi cần thiết nhà nước ra sắc lệnh đình chỉ sản xuất, lưu thông, hay một số hàng hoá nào đó, đình chỉ tăng gía ở một số mặt hàng, đình chỉ tăng sản lượng trong một thời gian xác định …Các văn bản pháp lệnh nhà nước cùng với bộ máy tổ chức thi hành thanh tra, giám sát, xử lý tạo thành một hệ thống công cụ hành pháp mạnh đẻ nhà nước điều chỉnh quá trình vận động của nền kinh tế theo mục tiêu định trứoc của mình. Nhưng theo xu hướng hiện đại, nhà nước ít sử dụng các biện pháp hành chính cứng rắn trong điều chỉnh hoạt động kinh tế của mình.

Các công cụ kỹ thuật. Cùng với với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thì hệ thống máy móc thu nhập thông tin phân tích các tình huống, xử lý thông tin và truyền tin kinh tế, nhờ hệ thống công cụ hiện đại này mà hiệu quả điều chỉnh kinh tế của nhà nước tăng cao. Nó cho phép nhà nước nắm và xử lý các tình huống kinh tế kịp thời. Toàn bộ các công cụ điều tiết kinh tế trên đã tạo thành một kết cấu hữu cơ trong hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư bản hiện đại.

3. Mô hình thể chế trong hệ thống điều tiết kinh tế và nhà nước tư sản hiện đại

Khi nghiên cứu sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản hiện, ta thấy trong hệ thống điều tiết đó thì mô hình thể chế có những đặc điểm nổi bật sau :

Thứ nhất: hạn chế sự quan liêu hóa của nhà nước đã thấm sâu vào đời sống kinh tế, giảm bớt chức năng của nhà nước, thực hiện “giải quan liêu băng cách xem xét lại hẹ thống luật kinh tế, đơn giản hóa các pháp quy và xây dựng những đạo luật mới thích hợp và cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.

Thứ hai, xác định lại trợ cấp của nhà nước. Quy định về mức trợ cấp hàng năm của nhà nước đã tạo ra những nghành và những xí nghiệp chỉ sống nhờ sự tài trợ của nhà nước dưới hình thức yêu đãi về thuế hoặc chi tiêu trực tiếp của nhà nước. Trợ được thực hiện nhân danh lợi ích quốc gia nhưng thực tế thường là do tác động của các thế lực tư bản.

Thứ ba : thực hiện làn sóng tư nhân hóa với quy mô lớn. Điều đó là do nhu cầu củng cố canh tranh của nền kinh tế mới của các cước tư bản. Do tổ chức đời sống kinh tế phù hợp với quy luật thị trường là sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Do tính không hiệu quả của khu vực kinh doanh của nhà nước về kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã hội cần phải khắc phục. Tuy nhiên nhà nước tư sản hiện đại không chủ trương xóa bỏ khu vực kinh tế nhà nước mà chỉ điều chỉnh, thu hẹp duy trì doanh nghiệp nhà nước ở mức thích hợp đẻ thực hiện các chắc năng kinh tế vĩ mô.

Thứ tư: mở cửa thị trường, nới lỏng sự điều tiết của nhà nước có thể dẫn đến sự hạn chế của cạnh tranh thị trường. Trong nền kinh tế của các tbcn phát triển có tới 50% GNP không theo cơ chế thi trường hoặc thị trường chỉ đóng vai trò cục bộ.

Thứ năm : xác định lại thứ tự yêu tiên trong chính sách kinh tế, hướng chủ yếu vào sự tăng trưởng lâu dài, tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi tiêu ngân sách cho nhu cầu xã hội, chống lạm phát, giảm thếu đẻ khuyến khích kinh doanh, khuyến khích hợp tác giữa kinh doanh tư nhân còn cạnh tranh với nhau

Thứ sáu : tăng cường sự phối hợp tác kinh tế giữa các nước trong lĩnh vực có tầm quan trọng đối với ổn định tình hình kinh tế –xã hội. Chú trọng nhiều hơn việc thực hiện các chính sách xã hội nhằm vừa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, vừa duy trì tính ổn định chính trị –xã hội.

Thứ bảy : điều tiết thị trường sức lao động, cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu lao động, nhu cầu về lao động khoa học kỹ thuật ngày càng tăng nhanh,. còn nhu cầu về lao động giản đơn hoặc lao động có kỹ năng thấp giảm xuống, tỷ trọng lao động trong lĩnh vực dịch vụ trong tổng số lao động tăng lên (có nước tới trên 70%), tỷ trọng lao động nông nghiệp và công nghiệp giảm xuống. Tình hình trên đòi hỏi nhà nước phải phát triển giáo dục đào tạo và đào tạo lại, đồng thời phải có chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

Cách mạng khoa học và công nghệ làm tăng năng suất lao động vượt bậc, nâng cao năng suất và đa dạng hóa sản phẩm dẫn đến tăng giá trị thặng dư tương đối và tỷ suất giá trị thặng dư tăng nên, điều đó biểu hiện bóc lột tăng nên. Đời sống của nguời lao động có kỹ năng tăng làm cho sự phân sự phân cực giàu nghèo trong xã hội tư sản hiện đại nên phức tạp hơn, buộc nhà nước tư sản phải điều tiết thu nhập của dân cư, giảm nhưng bất công xã hội để đảm bảo ổn định chính trị –xã hội.