Mô hình hai khoảng cách (two gap model)

Mô hình hai khoảng cách (two gap model) ra đời vào năm 1962 do nhà kinh tế học người Mỹ là Hollis Chenery xây dựng. Sau đó vào năm 1966, Hollis Chenery và Alan Strout hiệu chỉnh lại mô hình, Chenery cho rằng nếu như tỷ lệ đầu tư cần cho tăng trưởng kinh tế là một tỷ lệ cố định thì sự thiếu hụt đầu tư là nguyên nhân gây ra hạn chế chính đối với tăng trưởng kinh tế. Những nước đang phát triển thường thiếu hụt vốn đầu tư đặc biệt là nguồn lực vật chất như máy móc thiết bị, một số nguyên vật liệu là những thứ phải nhập khẩu do không tự sản xuất được, do vậy nguồn ngoại tệ eo hẹp chủ yếu được tạo ra từ xuất khẩu phục vụ cho nhập khẩu cũng là trở ngại cho quá trình tăng trưởng kinh tế. Hai yếu tố hạn chế này chính là “hai khoảng cách” mà Chenery nêu ra trong mô hình, hai khoảng cách trong mô hình bao gồm: khoảng cách giữa đầu tư và tiết kiệm (thâm hụt tiết kiệm) và khoảng cách giữa lượng ngoại tệ phải trả cho nhập khẩu và lượng ngoại tệ thu được từ xuất khẩu (thâm hụt thương mại). Mô hình “hai khoảng cách” cho rằng tài trợ nước ngoài có thể bù đắp được hai khoảng cách này của các quốc gia đang phát triển, để đạt mức tăng trưởng kinh tế dự kiến, dòng tài chính cần thiết từ nước ngoài sẽ hỗ trợ lấp đầy hai khoảng cách vừa nêu trên, nhưng sẽ khắc phục loại nào thiếu hụt nhiều hơn trong hai loại thiếu hụt. Xem xét một nền kinh tế cụ thể có nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và giả định rằng nhu cầu nhập khẩu là một tỷ lệ không đổi so với sản lượng trong nước. Như vậy điều kiện để tăng trưởng kinh tế là: g = i.m. Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng kinh tế, i là tỷ lệ nhập khẩu và m là mức sản lượng gia tăng trên một đơn vị nhập khẩu gia tăng (∆Y/∆M). Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế thì khoảng cách lớn nhất của hai loại khoảng cách phải được lấp đầy vì các khoảng cách này không có tính chất cộng dồn, và viện trợ nước ngoài là nguồn lực tốt nhất bù đắp khoảng cách này trong giai đoạn đầu của quá trình kiến thiết kinh tế ở những nước đang phát triển. Mô hình hai khoảng cách có những giá trị nhất định bởi lẽ tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán kéo dài triền miên ở nhiều nước đang phát triển cho thấy các nguồn lực trong nước khắc phục khoảng cách xuất nhập khẩu là khó khăn để tạo điều kiện cho tăng trưởng. Tuy nhiên đối với các nước có nhiều tài nguyên đem xuất khẩu (dầu, quặng mỏ) và ở trong tình trạng thặng dư ngoại tệ thì tăng trưởng vẫn không dễ xảy ra như dự kiến do năng lực hấp thụ hạn chế về kỹ năng, công nghệ, kiến thức… Nguồn lực từ bên ngoài không thể thay thế nội lực để thực hiện mục tiêu phát triển ở mỗi quốc gia trong nhiều thập niên, nhưng sự thiếu hụt vốn đầu tư, kỹ năng, kiến thức, thể chế trong giai đoạn đầu phát triển ở các nước nghèo cho thấy tầm quan trọng của viện trợ. Dòng viện trợ không chỉ là nguồn tài chính, nguồn ngoại tệ bổ sung mà còn là những hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ đào tạo, công nghệ, kinh nghiệm và còn là chỗ dựa cho các kế hoạch thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ (mục tiêu của các nước tài trợ). Sự tranh thủ nguồn vốn nước ngoài qua viện trợ khá quan trọng trong giai đoạn đầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển. Trên cơ sở mô hình Harrod – Domar, mô hình hai khoảng cách tiếp tục xoáy sâu vào khoảng cách thương mại và càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển.