Mô hình hai khu vực của Harry T. Oshima lý thuyết nhị nguyên

Mô hình hai khu vực của A. Lewis cho rằng sự dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp có thể chuyển sang khu vực công nghiệp mà không làm giảm sản lượng nông nghiệp. Tuy nhiên, Harry T. Oshima (1963) cho rằng đây là cách nhìn không thích hợp với các nước ở Châu Á, nơi có nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao, vào thời gian cao điểm của mùa vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao động và lại dư thừa nhiều trong mùa nhàn rỗi. Vì vậy, ông đã đưa ra mô hình phát triển mới như sau:

Giai đoạn 1: tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi bằng cách: tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, trồng cây lâm nghiệp, nuôi và đánh bắt cá.

Giai đoạn 2: hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách: (i) đa dạng hóa nông nghiệp; (ii) phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, đồ uống, đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ, công nghiệp phân bón, hóa chất, các ngành cung cấp nguyên liệu và công cụ lao động cho nông nghiệp; (iii) phát triển các ngành dịch vụ như thương nghiệp, kho vận và hoạt động tài chính tín dụng. Khi đó việc di dân từ nông thôn lên thành thị để phát triển các ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ hỗ trợ trên ngày càng tăng. Quá trình này diễn ra cho tới khi khả năng tăng việc làm vượt quá tốc độ tăng lao động làm cho tiền công thực tế tăng lên.

Giai đoạn 3: sau khi có việc làm đầy đủ. Khi tiền công trong nông nghiệp tăng lên dẫn tới xu hướng sử dụng máy móc thay thế cho lao động. Trong điều kiện đó, khu vực nông nghiệp có thể rút bớt lao động để chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ.

Như vậy, để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, trước hết cần tập trung cho nông nghiệp, sau đó đầu tư cho cả hai khu vực một cách tương xứng. Thực hiện tốt điều này sẽ thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời hạn chế sự phân hóa giàu nghèo giữa hai khu vực.