Mô hình nghiên cứu trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Nghiên cứu mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngày càng được nhiều nghiên cứu đề cập đến cũng như thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam và thế giới. Khi đề cập đến trách nhiệm xã hội thì đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế (Matten và Moon (2004). Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn được đề cập đến như là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của doanh nghiệp trong tình hình kinh doanh hiện nay (Quinn, Mintzberg, và James, 1987). Và mối quan hệ giữa việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiêp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là hiện hữu (Arlow và Gannon, 1982; Ullmann,1985)

Nghiên cứu của Harrison và Freeman (1999); Hart và Ahuja (1996), Mackey và cộng sự (2007) đã cho thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có mối liên hệ với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở từng nghiên cứu cho thấy sự tác động khác nhau. Nghiên cứu của Aragon-Correa và cộng sự (2008) cho thấy có mối quan hệ dương, nghiên cứu Gilley và cộng sự (2000), Thornton và cộng sự (2003) cho thấy không có mối quan hệ. Ngoài ra từng thị trường, từng quốc gia mối quan hệ giữa thực hiện trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng có sự khác nhau.

Như vậy, những nghiên cứu trước đây khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã xem xét những tác động tích cực, tiêu cực thậm chí có những nghiên cứu không  đưa ra được tác động của mối liên hệ này.

Theo nghiên cứu của Marc Orlitzky và cộng sự (2003) cho thấy có mối tương quan giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Với nghiên cứu này Orlitzky đã phân tích các nghiên cứu trước đó đã nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho thấy rằng nghiên cứu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được dựa trên các chỉ tiêu đánh về mặt kế toán đó là các tỷ số: ROA, ROE, ROS, trong khi tính chặt chẽ của nghiên cứu ít hơn khi đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua các chỉ tiêu thị trường hoặc các chỉ tiêu đánh giá danh tiếng của doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Cochran và Wood (1984) đã dựa vào yếu tố thị trường như giá cổ phiếu, sự gia tăng giá cổ phiếu, chỉ số P/E, quá trình đấu thầu và yêu cầu của thị trường dựa vào lãi trong quá khứ, hiện tại và tương lai và cả rủi ro, để cho thấy mới tương quan giữa thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, song những tác động được phát hiên ít rõ ràng hơn so với đánh giá lợi nhuận về theo các chỉ tiêu kế toán.

Một số nghiên cứu lại sử dụng các chỉ tiêu kế toán của doanh nghiệp để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Cochran và Goox, 1984). Như vậy, hiệu quả hoạt động được đo lường bằng các tỷ số như: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên doanh thu (ROS). Trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì chỉ tiêu tài chính được sử dụng hiệu quả nhất và đo lường được hiệu quả hoạt động rõ ràng và tốt hơn so với các chỉ tiêu hướng đến thị trường hay hướng đến danh tiếng của doanh nghiệp khi nghiên cứu mối liên hệ giữa thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, nghiên cứu này cũng dựa vào các chỉ tiêu kế toán để đánh giá tác động này.

Như đã trình bày mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động đã được nghiên cứu trên thế giới, theo nghiên cứu Gilley và cộng sự (2000); Thornton và cộng sự (2003) đã cho thấy không có mối quan hệ giữa tác động của trách nhiệm xã hội với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, những nghiên cứu khác lại cho kết quả có mối quan hệ tích cực, song không nhất thiết đó là mối quan hệ trực tiếp (Burke & Logsdon 1996). Mặt khác, những nghiên cứu gần đây cho thấy được có mối tương quan dương và tích cực giữa thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Harrison và Freeman 1999), song sẽ không rõ rang trong ngắn hạn mà phải là trong dài hạn (Eisenhardt và Martin (2000); Hart và Ahuja (1996); Russo và (1997).

Bên cạnh đó, theo Wood và Jones (1995), các công ty có quy mô lớn thường chi nhiều ngân sách cho các hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội hơn các công ty có quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, Orlitzky (2001) không tìm thấy tác động của quy mô doanh nghiệp đến mối quan hệ giữa thực hiện trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Hơn nữa, Chand (2006) lại tìm thấy rằng, ngành công nghiệp khác nhau sẽ có cách thức thực hiện các hoạt động đối với môi trường, với những khác biệt của xã hội khác nhau dẫn đến sự ảnh hưởng khác nhau trong mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tuy mức độ tác động không mạnh bằng quy mô doanh nghiệp.

Như vậy Vogel (2005) đưa ra được kết luận rằng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải là hành động trộm cắp từ túi của các cổ đông mà đó là mối quan hệ giữa thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và các bên liên quan và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Mặc dù tổ chức ngày càng tuân thủ và chứng tỏ cam kết của họ trong việc phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ( Pinkston và Carroll, 1994), nhiều đấu tranh với nỗ lực này ( Lindgreen và cộng sự, 2009) và trách nhiệm xã hội của việc  kinh doanh, doanh nghiệp và những nhà quản trị đã và đang được bàn luận trong những nghiên cứu học thuật từ những năm 1950, ít nhất sự xuất hiện này đã không nhận được sự đồng thuận về những câu hỏi rằng liệu bất kỳ quá trình nào được thực hiện trong những nghiên cứu học thuật về trách nhiệm của những nghiên cứu này.

Theo MC William và Siegel (2001) định nghĩa mở rộng rằng “hành động như là sự xuất hiện xa hơn một số hàng hóa xã hội, vượt qua sự hấp dẫn của doanh nghiệp và cả yêu cầu của luật pháp” đã có được sự nổi tiếng trong lý thuyết quản trị tổng quan.(Caroll, 1999; Cochran và Wood, 1984, McGuire, Sundgren và Godfre, 2002; Windsor, 2001)

Các tài liệu quản lý đã thừa nhận trách nhiệm xã hội như một nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp (Quinn, Mintzberg và James, 1987) với tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội trong việc ra quyết định của doanh nghiệp.

Đúng là đã có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa thực hiện trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Một quan điểm khác cho rằng doanh nghiệp phải đối mặt với việc đánh đổi giữa giữa thực hiện trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của họ. Những người giữ quan điểm này đề xuất rằng doanh nghiệp cần chịu chi phí từ những hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Aupperle, Carroll, và Hatfield, 1985; Ullmann, 1985; Vance, 1975). Ngược lại, một nhóm quan điểm khác – cho rằng những chi phí minh bạch của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những chi phí tối thiểu và những doanh nghiệp đó có thể thực sự có lợi thế từ các hoạt động trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp của đạo đức nhân viên và sản phẩm (Moskowitz , 1972 ; Parks và Eibert , 1975 ; Soloman & Hansen , 1985)

Thực chất để đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thông thường các nghiên cứu sẽ đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo các bên liên quan ( theo phần khái niệm đã được trình bày ở mục 2.1). Do đó, khái niệm trách nhiệm xã hội là một khái niệm đa hướng và được đo lường thông qua việc thực hiện của (1) môi trường, (2) nhân viên, (3) khách hàng, (4) nhà cung ứng, (5)cộng đồng.

Khi đưa khái niệm lãnh đạo vào mô hình nghiên cứu vì việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ được khởi xướng và thực hành từ phía lãnh đạo, việc lãnh đạo có hưởng ứng và khơi dậy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là điều rất quan trọng để doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với các bên liên quan. Như vậy, nghiên cứu của tác giả kỳ vọng lãnh đạo sẽ tác động dương đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tuy nhiên, luận án sử dụng lý thuyết về lãnh đạo chuyển đổi vì với lý thuyết về lãnh đạo chuyển đổi được các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sử dụng vì chính việc lãnh đạo chuyển đổi thường sẽ có tác động mạnh đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội hơn là lãnh đạo giao dịch (được trình bày trong mục 2.1 và 2.2). Song, cũng chính khái niệm lãnh đạo chuyển đổi cũng sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo chiều hướng khác hơn, cụ thể việc tác động đến hiệu quả hoạt động được kỳ vọng là không mạnh.

Các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với vấn đề tại sao tôi phải thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà những hoạt động này sẽ tiêu tốn ngân sách của doanh nghiệp và họ không thấy được rằng lợi ích mà những hoạt động này mang lại là như thế nào. Mặt khác khi nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp các nhà nghiên cứu thường nghiên cứu mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội với việc quản trị hoặc nhà quản trị ; một số nhà nghiên cứu khác lại nghiên cứu giữa trách nhiệm xã hội và lãnh đạo như Burn (1979), umphries (2001); một số nhà nghiên cứu lại nghiên cứu về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Marc Orlitzky và cộng sự (2003), Cochran và Goox (1984). Nghiên cứu của tác giả muốn chuyển cả việc nghiên cứu giữa việc thực hiện trách nhiệm xã hội và và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp một cách trực tiếp, gián tiếp và có sự tác động của phong cách lãnh đạo đến trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời trong dài hạn.

Theo Wood và Jones (1995), các công ty có quy mô lớn thường chi nhiều ngân sách cho các hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội hơn các công ty có quy mô nhỏ hơn

Từ những lập luận ở mục 2.1 và 2.2 , nghiên cứu xây dựng được mô hình ở hình 2.3 sau đây: