Mô hình nghiên cứu và thang đo sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Hà Tĩnh

Dựa vào cơ sở lý luận về quản lý huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM ở Hà Tĩnh, bao gồm các yếu tố thuộc về nhà nước như chủ trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch XDNTM của Nhà nước; các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên; trình độ phát triển KT-XH của địa phương; các yếu tố thuộc về người dân như trình độ dân trí, đời sống và thu nhập và sự tham gia XDNTM của người dân và sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, các DN. Việc xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm kiểm chứng tác động của các yếu tố ảnh hưởng trên đến việc quản lý huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM tại tỉnh Hà Tĩnh làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp quản lý huy động, sử dụng các NLTC cho XDNTM. Trong đó, kết quả huy động, sử dụng các NLTC cho XDNTM tại tỉnh Hà Tĩnh là biến phụ thuộc, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM là các biến độc lập.

Các mối tương quan được mô tả và kiểm chứng trong mô hình là:

  • Mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về nhà nước tới kết quả huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM tại tỉnh Hà Tĩnh.
  • Mối quan hệ giữa các yếu tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH đến kết quả huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM tại tỉnh Hà Tĩnh
  • Mối quan hệ giữa các yếu tố về thuộc về người dân đến kết quả huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM tại tỉnh Hà Tĩnh.

Mối quan hệ giữa các yếu tố về sự phối hợp của các đoàn thể, các DN đến kết quả huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM tại tỉnh Hà Tĩnh.

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong Luận án thực hiện theo quy trình suy diễn, tức là dựa trên lý thuyết khoa học đã có để xây dựng các giả thuyết trả lời cho câu hỏi nghiên cứu và dùng quan sát (thu thập dữ liệu) để kiểm định các giả thuyết này[103]. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây và nghiên cứu sơ bộ được tiến hành bằng cách phỏng vấn 30 hộ dân, 10 cán bộ và 10 DN theo cách lấy mẫu thuận tiện nhằm xác định bảng hỏi phù hợp và kiểm tra thang đo. Kết quả, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới được tập hợp thành 4 nhóm:

    • Nhóm các yếu tố thuộc về nhà nước.
    • Nhóm các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế – xã hội
    • Nhóm các yếu tố thuộc về người dân
    • Nhóm các yếu tố về sự tham gia của các đoàn thể, các doanh nghiệp. Các thang đo biến độc lập được cấu trúc thành 7 tiểu mục, gồm:
    • Hệ thống biến quan sát cho kế hoạch XDNTM ở địa phương
    • Hệ thống biến quan sát cho cơ chế, chính sách huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM
    • Hệ thống biến quan sát cho bộ máy điều hành thực hiện huy động, sử dụng NLTC cho XDNTM
    • Hệ thống biến quan sát cho trách nhiệm giải trình của CQĐP
    • Hệ thống biến quan sát cho điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế-xã hội
    • Hệ thống biến quan sát cho các yếu tố thuộc về người dân

Hệ thống biến quan sát cho sự tham gia của các đoàn thể, các doanh nghiệp.

Thang đo kế hoạch XDNTM ở địa phương được đo lường thông qua 2 biến quan sát: địa phương có kế hoạch rõ ràng, hợp lý trong XDNTM và địa phương có kế hoạch cụ thể về huy động, sử dụng NLTC phù hợp với thực tế và kế hoạch XDNTM.

Thang đo cơ chế, chính sách huy động và sử dụng các NLTC cho DNTM được đo lường thông qua 4 biến quan sát: Có hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ cho huy động, sử dụng các NLTC cho XDNTM; tính hiệu quả; tính hiệu lực và sự phù hợp với nguyên tắc thị trường của các chính sách huy động và sử dụng các NLTC . Thang đo Bộ máy điều hành thực hiện XDNTM được đo lường thông qua 6 biến quan sát: Ban chỉ đạo chương trình xã, thôn có sự chỉ đạo rõ ràng trong quá trình thực hiện chương trình XDNTM; Lãnh đạo địa phương quan tâm, có trách nhiệm cao trong việc chỉ đạo thực hiện chương trình XDNTM; Cán bộ các cấp biết rõ nội dung chương trình XDNTM; Công tác tuyên truyển về XDNTM và huy động, sử dụng các NLTC cho XDNTM đạt hiệu quả tốt; Cán bộ các cấp và ở các đoàn thể ở địa phương gương mẫu trong đóng góp tài chính, công sức, hiến đất….cho chương trình XDNTM; Người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của cán bộ địa phương trong quá trình XDNTM.

Thang đo trách nhiệm giải trình của CQĐP được đo lường thông qua 4 biến quan sát: Người dân biết rõ nhu cầu cần huy động huy động và sử dụng các NLTC cho XDNTM; Người dân biết rõ mục đích sử dụng các khoản đóng góp của họ cho chương trình XDNTM; Người dân được tham gia bàn và đóng góp ý kiến về vấn đề huy động các NLTC cho chương trình XDNTM; Người dân được giám sát việc huy động sử dụng các NLTC cho chương trình XDNTM.

Thang đo điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội được đo lường thông qua 2 biến quan sát: Điều kiện tự nhiên; Điều kiện kinh tế-xã hội của địa phương

Thang đo các yếu tố thuộc về người dân được đo lường thông qua 4 biến quan sát: Thu nhập bình quân/người của người dân; Trình độ dân trí; Sự hiểu biết của người dân về XDNTM; Sự sẵn sàng tham gia của người dân vào XDNTM.

Thang đo sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp được đo lường thông qua 2 biến quan sát: Hoạt động của các Hội, đoàn thể ảnh hưởng tích cực đến huy động và sử dụng NLTC cho XDNTM; Sự tham gia của DN, HTX và các tổ chức kinh tế ảnh hưởng tích cực đến huy động và sử dụng NLTC cho XDNTM.

Nghiên cứu này sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ sau: (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) bình thường, (4) đồng ý, (5) hoàn toàn đồng ý để phản ánh ý kiến đánh giá của người dân, DN và người thực thi chính sách đối với công tác quản lý huy động, sử dụng các NLTC cho XDNTM tại Hà Tĩnh.

Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu là 320, trong đó có 200 hộ dân, 60 doanh nghiệp và 60 cán bộ quản lý như đã trình bày ở Chương 1.