Mối quan hệ giữa kinh tế học giáo dục với kinh tế học phát triển

Mối quan hệ giữa kinh tế học giáo dục với kinh tế học phát triển
Đánh giá bài viết

 

Ngày nay loài người tiến bộ đang khao khát hướng tới một mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nhằm nâng cao đáng kể chất lượng sống cho con người trong sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cả mọi người, cho thế hệ ngày nay và muôn đời con cháu mai sau. Nói theo cách của Việt Nam: Thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Để đạt được mục tiêu tốt đẹp trên đây, cần phải tìm cho được động lực cơ bản của sự phát triển. Vào thời kỳ của những thế kỉ trước, khi lao động thủ công đóng vai trò chủ yếu, thì các yếu tố lao động và đất đai đóng vai trò động lực. Nếu biết kết hợp đúng đắn lao động và đất đai thì của cải sẽ sinh sôi, nảy nở. Chính vì vậy mà nhà kinh tế học Adam Smit đã nhận định: “Đất là mẹ, lao động là cha”. Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp, lao động, vốn, kĩ thuật và phương pháp quản lí được xem là những yếu tố chủ chốt của tăng trưởng kinh tế. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với sự tiến đến nền văn minh trí tuệ, đến các “xã hội thông tin”, trong đó “thông tin” trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của mọi quốc gia, việc “tin học hoá” tạo nên những chuyển biến nhanh chóng về lượng cũng như về chất của nền kinh tế thế giới, thì con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển.

Ngày nay, khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Các nước chậm tiến muốn phát triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển. Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp các nước thuộc thế giới thứ ba thoát khỏi sự nô lệ mới về kinh tế và công nghệ. Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã nói nhân dịp khai giảng năm học 1995 – 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất, đồng thời là mục tiêu cao cả nhất. Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia. Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước”. Do vậy, giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia.

Khoa học đặt trên nền tảng giáo dục học và kinh tế học nghiên cứu vấn đề kinh tế của nền giáo dục theo các ý nghĩa: giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh (động lực) của kinh tế; giáo dục là nhân tố chủ yếu tạo ra nguồn nhân lực tăng tiến về chất lượng, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm mạng lưới các nhà trường, đội ngũ người dạy (thầy giáo), đội ngũ người học (học viên) có vai trò quan trọng trong kết cấu hạ tầng xã hội.

Người đầu tiên đưa tư duy khoa học kinh tế vào giáo dục là Xmit A. (A. Smith). Ở thế kỉ 19, Mac K. (K. Marx) có công lớn phát triển tư duy kinh tế giáo dục khi coi lao động lành nghề – lao động được đào tạo – là bội số của lao động giản đơn. Vào những năm 20 thế kỉ 20, viện sĩ người Nga Xtơrumilin (S. G. Strumilin) đã đưa ra phương pháp định hướng hiệu quả kinh tế của giáo dục. Ông chứng minh, vốn bỏ vào việc phát triển giáo dục sẽ được thu hồi lại sau từng kế hoạch 5 năm với hệ số gia tăng gấp từ 2 đến 4 lần.

Từ những năm 60 thế kỉ 20, Kinh tế học giáo dục (KTHGD) ngày càng được hoàn thiện, gắn bó với lí luận kinh tế học phát triển. KTHGD làm sáng tỏ mối quan hệ giữa phát triển vốn vật chất và vốn trí tuệ trong việc đóng góp vào tiến bộ xã hội. KTHGD được nghiên cứu ở Việt Nam từ sau 1970, đặc biệt trong quá trình triển khai các chủ trương về cải cách giáo dục và đổi mới sự nghiệp giáo dục.