Mối quan hệ giữa các nhân tố phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của Việt Nam

  • Mối liên hệ giữa nhân tố kinh tế với xã hội

Yếu tố về tăng trưởng KT đòi hỏi phải theo đuổi con đường phát triển tạo ra sự tăng thu nhập thực sự, gia tăng SX xã hội, xoá bỏ nghèo đói, bảo đảm nhịp độ  tăng trưởng nhanh, ổn định, hiệu quả. Mức độ bền vững về KT bị chi phối  bởi tính hữu ích, chi  phí  ĐV, chi phí khai thác, chế biến và nhu cầu đối với SP. Để bảo đảm sự tăng trưởng KT nhanh, khai thác tài nguyên thiên nhiên với cường độ lớn hơn vẫn là phương thức mà    nhiều quốc gia lựa chọn.

Kết quả thảo luận chuyên gia lần 1&2 (Phụ lục 02) cho thấy sự bền vững của trụ  cột KT là nhân tố đảm bảo sự bền vững cho trụ cột  XH thể  hiện qua các tác động như  sau: thứ nhất, cơ sở vật chất và công nghệ chế biến tốt sẽ góp phần gia tăng giá trị và hiệu quả SX, thuận lợi cho hoạt động tiêu thụ và từ đó tạo ra nhiều công ăn việc làm cho lao động chế biến, cũng như nuôi trồng và khai thác; thứ hai, trình độ khai thác và nuôi trồng NVL mây tre lá cao sẽ cung ứng nguồn nguyên liệu có chất lượng và đảm bảo số lượng  cho hoạt động SX; thứ ba, nếu KT mang lại hiệu quả thì giá trị gia tăng sẽ cao và  góp  phần thúc đẩy người lao động tham gia ngành.

Ngược lại, PTBV về XH gắn chặt và có quan hệ biện chứng với PTBV về KT, là sự phát triển kết hợp giữa tăng trưởng KT với ổn định XH, không có xung đột, xáo trộn, rối loạn; huy động tối đa, hiệu quả các nguồn lực cho quá trình phát triển; bảo đảm giải quyết tốt các vấn đề về việc làm, giáo dục, y tế, công bằng về thu nhập, phúc lợi XH giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng lãnh thổ; xây dựng, bảo vệ và phát huy những chuẩn mực của XH hiện tại trên cơ sở tôn giáo, truyền thống, phong tục, tập quán, bản sắc dân tộc, đạo đức, luật pháp. Rõ ràng, khi phúc lợi, việc làm và thu nhập ổn định sẽ có tác động đến việc quan tâm của XH  trong học nghề, ý tưởng sáng tạo trong lao động, SX. Từ đó góp phần làm tăng năng suất về  giá trị gia tăng của ngành TCMN mây tre lá.

·  Mối liên hệ giữa nhân tố kinh tế với môi trường

Kết quả thảo luận chuyên gia lần 1&2 (Phụ lục 02), Các hoạt động KT như nuôi  trồng, khai thác chế biến sẽ tác động trực tiếp hoặc  gián tiếp đến MT, tạo ra  lượng phát  thải nhất định làm ô nhiễm nguồn nước hay không khí. Các hoạt động KT này không chỉ  tác động đối với người dân xung quanh mà còn tác động trực tiếp đến khả năng phát triển nguồn lợi trong tương lai ngành TCMN mây tre lá.

·  Mối liên hệ giữa nhân tố môi trường với xã hội

Kết quả thảo luận chuyên gia lần 1&2 (Phụ lục 02), PTBV về MT có mối quan hệ chặt chẽ với PTBV về KT và về XH, phản ánh mối quan hệ giữa con người và giới tự  nhiên. Mọi quá trình phát triển xét đến cùng cũng chỉ là việc sử dụng nguồn lực con người để khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. Nói cách khác,

PTBV về MT là sự bảo đảm cho MT sống luôn duy trì được ba chức năng cơ bản của nó:  là không gian sống của con người; là nơi cung cấp nguồn lực cho sự tồn tại, phát triển của con người và XH; là nơi chứa đựng, tiêu huỷ các chất thải. Chỉ một  trong ba chức  năng  này bị tổn thương hoặc mất cân bằng là nguy cơ PTBV hàng TCMN mây tre lá về MT sẽ   bị đe doạ.

·  Vai trò của chính sách tác động đến các nhân tố PTBV

Kết quả thảo luận chuyên gia lần 1&2 (Phụ lục 02), việc nâng cao năng lực quản   lý bao hàm nhiều nội dung, trong đó có những nội dung sau được coi là then chốt như: Tư duy về  quản lý ngành theo yêu cầu PTBV; Xác  định mô hình tổ chức và xây dựng hệ  thống bộ máy quản lý ngành; Thể chế quản lý ngành với những quy định rõ ràng minh   bạch và hợp lý xử lý các quan hệ quản lý; Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ quản lý…

Trong thảo luận chuyên gia lần hai, nhiều chuyên gia cho rằng sự tương tác này  diễn ra theo xu hướng bền vững khi đảm bảo có sự điều tiết hợp lý bởi vai trò của Chính phủ, sự điều tiết này thể hiện qua các chính sách của Chính phủ ban hành trong việc tác động đến: (1) Hoạt động KT nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng giá trị chế biến nhưng đồng  thời đảm bảo phúc lợi lao động, kiểm soát phát thải. (2) Về khía cạnh XH, chính sách điều tiết của Chính phủ nhằm hướng đến duy trì phúc lợi, ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động nhưng vẫn đảm bảo thúc đẩy sự phát triển thu nhập của DN và nông dân, cũng như nâng cao ý thức bảo vệ MT của người lao động. (3) Đối với khía cạnh MT,    chính sách ban hành nhằm bảo vệ được nguồn NVL nhằm góp phần tăng năng suất khai thác, nuôi trồng để đảm bảo cung ứng nguồn nguyên liệu cho hoạt động chế biến.