Mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường đến sự phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của Việt Nam

Phát triển thiếu tính bền vững của hoạt động ĐV đã có tác động tiêu cực đối với hoạt động

Từ phân tích ở mục 3.1, ta thấy rằng tốc độ phát triển kinh doanh trong hoạt động nuôi trồng-khai thác NVL gắn bó chặt chẽ tốc độ phát triển của hoạt động SX-chế biến.  Qua đó cho thấy công nghệ nuôi trồng-khai thác cung ứng nguyên liệu đầu vào chưa phát triển tương xứng với tiềm năng SX và XK của ngành. Đây là một biểu hiện của sự thiếu  bền vững do sự mất cân đối giữa hoạt động ĐV và SX của ngành.

Phát triển thiếu tính bền vững của hoạt động SX đã có tác động tiêu cực đối với sự bền vững của hoạt động ĐR.

Thực tế sự tăng trưởng về sản lượng chế biến và sản lượng hàng TCMN mây tre lá XK không ổn định được thể hiện bảng 3.11

Biểu đồ 3.7 cho thấy mặc dù xét trong dài hạn thì xu hướng thay đổi sản lượng chế biến và sản lượng XK có tăng nhưng không ổn định, đặc biệt là trong giai đoạn từ năm 2015-2017 thấp hơn năm 2015. Ngành hàng TCMN mây tre lá đứng trước những thách  thức mới của cơ chế TT và suy thoái KT toàn cầu đang gặp phải những khó khăn rất to lớn tưởng chừng khó vượt qua. Giá NVL, nhân công và hàng loạt chi phí khác đang leo thang trong khi giá cả ĐR lại quá thấp, TT co lại, hàng tồn đọng khó  tiêu thụ đồng  thời còn bị  các đối thủ cạnh tranh nước ngoài ép giá,… Vì thế nhiều cơ sở có nguy cơ bị đóng cửa,    đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn. Điều này cho thấy ngành TCMN mây tre lá  có dấu hiệu phát triển thiếu bền vững.

Phát triển thiếu tính bền vững trong trụ cột KT đã tác động tiêu cực trong tạo việc làm, phúc lợi và thiếu động lực thu hút nguồn lao động.

Những biến số đo lường chủ yếu nhằm xem xét tính bền vững trong trụ cột KT bao gồm các chỉ tiêu như: (i) diện tích nuôi trồng, (ii) sản lượng nuôi trồng- khai thác, (ii) sản lượng SX-chế biến và sản lượng XK hàng TCMN mây tre lá. Kế đến là biến đại diện cho  trụ cột XH gồm hai chỉ tiêu: (i) số lượng lao động và (ii) thu nhập bình quân của người lao động trong ngành hàng TCMN mây tre lá.

Bảng 3.12 cho thấy số lượng lao động chế biến ngày càng có xu hướng giảm nhưng thu nhập của người lao động có xu hướng tăng.

Qua tính toán các biến số đo lường bền vững của trụ cột KT có tương quan dương  với biến số thu nhập bình quân của người lao động. Điều này có thể được giải thích là do ứng dụng tiến bộ trong công nghệ chế biến và vận hành máy móc thiết bị hiện đại hơn nên ngày càng ít sử dụng lao động, đây là dấu hiệu tích cực cho ngành. Tuy nhiên sự bền vững của trụ cột KT là nhân tố đảm bảo sự bền vững cho trụ cột XH thể hiện qua trình độ khai thác và nuôi trồng NVL mây tre lá còn thấp do đó cung ứng nguồn nguyên liệu chất lượng  và đảm bảo số lượng cho hoạt động SX còn yếu kém, đồng thời yếu tố cơ sở vật chất và việc ứng dụng quy trình công nghệ chế biến mới chưa phổ biến, kinh nghiệm tay nghề của các nghệ nhân ngày càng mai một chưa góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho lao động chế biến, cũng như kích thich nuôi trồng và khai thác. Điều này cho thấy ngành TCMN mây tre lá có dấu hiệu phát triển thiếu bền vững.

Phúc lợi của người lao động không được đảm bảo sẽ có tác động tiêu cực trong cung ứng NNL chất lượng cao về trình độ quản trị chuyên môn, kỹ thuật thuộc ngành TCMN.

Những biến số đo lường chủ yếu nhằm xem xét tính bền vững trong trụ cột XH bao gồm các chỉ tiêu như: (i) Tỷ lệ hộ sống dưới ngưỡng nghèo sống ở các khu vực làng nghề nói riêng, ở khu vực nông thôn nói chung khi tham gia SX hàng TCMN mây tre lá;  (ii) Tỷ  lệ lao động có việc làm tăng thêm từ việc mở rộng XK hàng TCMN mây tre lá; (iii) Tỷ lệ  lao động đã qua đào tạo trong hoạt động XK hàng TCMN mây tre lá.

Điều này được chứng minh qua số liệu nguồn lao động đăng ký học các lớp dạy nghề ngắn hạn trong ngành hàng TCMN bình quân tăng 30%/năm trong giai đoạn 2010-2016 (Nguồn: Bộ NN&PTNT). Ngoài ra, trong thực tiễn của ngành hàng TCMN mây tre lá khi trình độ lao động SX-chế biến ở Việt Nam ngày càng được nâng cao qua đào tạo từ  các nghệ nhân từ các làng nghề và các chuyên gia là khách hàng NK thành phẩm. Việc dạy nghề tại nhiều địa phương còn theo phong trào, trong đó nghề đan lát là ví dụ điển hình. Rất nhiều các khóa đào tạo dạy nghề đã không đem lại công việc cho người học do thời gian dạy nghề quá ngắn và việc đào tạo không tính đến góc độ TT (giá thành không cạnh tranh) là yếu tố quyết định sự bền vững của đào tạo, chính vì vậy, trên 60% các lớp đào tạo nghề tại các địa phương được khảo sát đã không thể duy trì. Điều này cho thấy ngành TCMN mây tre lá có dấu hiệu phát triển thiếu bền vững.

Môi trường nuôi trồng-khai thác nguồn NVL bị xâm hại nên không đảm bảo việc cung ứng ổn định nguồn NVL cho hoạt động KT, đồng thời hoạt động KT cũng gây tác động tiêu cực đối với khả năng nuôi trồng-khai thác nguồn NVL mây tre lá.

Những biến số đo lường chủ yếu nhằm xem xét tính bền vững trong trụ cột MT bao gồm các chỉ tiêu như: (i) Mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo được; (ii) Mức độ  khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo được; (iii) Mức độ mở rộng diện tích nuôi trồng NVL để SX hàng TCMN mây tre lá sẽ đánh giá được sự  PTBV  hàng TCMN mây tre lá của Việt Nam.

Số liệu cho thấy sản lượng SX-chế biến và năng suất khai thác giai đoạn 2010-2016 đều tăng. Tuy nhiên, bản thân ngành chế biến trong nước không sử dụng hết nguồn NVL được nuôi trồng-khai thác, nhưng lại đặt thu mua bên ngoài và hình thức này ngày một  tăng. Nguyên nhân chính là do chất lượng và  giá cả nguồn NVL từ môi  trường khai thác  và nuôi trồng trong nước không phù hợp hoàn toàn với nguyên liệu cần thiết cho SX-chế biến trong ngành.

Giai đoạn 2013-2015, tỷ số k1 tăng, điều này phản ánh tốc độ tăng sản lượng khai thác nhiều hơn tốc độ tăng năng suất khai thác-nuôi trồng. Có thể nói rằng hiệu quả khai  thác trong giai đoạn này đang có xu hướng tích cực.

Giai đoạn 2015-2016, tỷ số k1 giảm nhiều, vấn đề này phản ánh tốc độ tăng sản lượng khai thác ít hơn tốc độ tăng năng suất khai thác-nuôi trồng. Có thể nói rằng hiệu quả khai thác trong giai đoạn này đang có xu hướng tiêu cực. Vấn đề cho thấy trữ lượng nguồn NVL đang bị cạn kiệt nghiêm trọng.

Sau năm 2016 về sau, tỷ số k1 có dấu hiệu tăng đều trở lại. Vấn đề này cho thấy dường như đã có sự điều chỉnh về chính sách mang lại những tín hiệu tích cực hơn.

Từ việc cơ cấu SP khai thác và nuôi trồng (MT) tạo ra không phù hợp hoàn toàn    với nguyên liệu cần thiết cho khâu chế biến (KT) trong cả nước cho thấy chính sách quản  lý, điều tiết của chính quyền địa phương chưa phù hợp, biểu hiện ở sự bất cập về công tác qui hoạch vùng nuôi trồng cũng như cơ cấu loài trong nuôi trồng NVL mây tre lá,  xây  dựng chiến lược phát triển kinh tế TCMN mây tre lá chưa đồng bộ, chưa khai thác hết tiềm năng phát triển KT của các làng nghề địa phương. Sự thay đổi về diện tích nuôi trồng có liên quan đến hầu hết các chỉ tiêu KT như sản lượng nuôi trồng, sản lượng chế biến, thu nhập người lao động, khoản thu ngân sách nhà nước…

Ngoài ra, mối quan hệ giữa trụ cột MT và KT qua sự tác động của việc phát thải từ các hoạt động khai thác-nuôi trồng NVL  đến  SX-chế biến sản lượng XK thể hiện ở  biểu đồ 3.9.

Việc kiểm soát sự phát thải ra MT từ các hoạt động  khai  thác-chế biến ngành TCMN của nước ta mới chỉ được thực hiện ở những năm gần đây (từ 2012) nhưng lượng chất thải từ các hoạt động khai thác-chế biến vẫn tăng lũy thoái. Cũng phải thấy rằng sự tác động này có thể là chưa biểu hiện tức thời, nhưng về lâu dài liệu có đảm bảo khi các hoạt động khai thác-chế biến vẫn tiếp tục gia tăng. Nồng độ phát thải ra MT sẽ là nguy cơ ô nhiễm MT từ các hoạt động khai thác-chế biến hàng TCMN mây tre lá đang tiềm ẩn yếu tố bộc phát.

Ý thức bảo vệ MT tự nhiên, nuôi dưỡng nguồn NVL mây tre lá chưa cao có tác động làm giảm năng suất SX và sản lượng nuôi tạo sự bất ổn định về việc làm, thu nhập, phúc lợi người lao động. Ngược lại, sự thiếu bền vững của trụ cột XH thể hiện qua việc làm không ổn định, thu nhập và phúc lợi của người lao động giảm có tác động tiêu cực đến ý thức bảo vệ MT, nuôi dưỡng nguồn tài nguyên.

Từ các hoạt động nuôi trồng, khai thác sẽ chi phối MT tự nhiên đồng thời MT tác

động đến nguồn lợi NVL. Và MT cũng là nguồn cung cấp cho con người các điều kiện liên quan đến chất lượng cuộc sống. Ngược lại, con người cũng có những hành động tác động trực  tiếp đến MT thể hiện qua ý thức bảo vệ MT hoặc tàn phá MT. So sánh giữa 2  tiêu chí đánh giá là tốc độ tăng thu nhập với tốc độ tăng diện tích nuôi trồng biểu đồ 3.10 cho thấy thu nhập bình quân của người lao động trong ngành TCMN mây tre lá giai đoạn 2012 – 2017 tăng lên, và số lượng phương tiện khai thác-nuôi trồng NVL mây tre lá cũng tăng lên nhưng dao động mạnh và thiếu bền vững.

Biểu đồ 3.11 biểu hiện tỷ số (k2) giữa tốc độ tăng của thu nhập bình quân người lao động trong ngành hàng TCMN mây tre lá trên tốc độ tăng của  diện tích khai thác-nuôi  trồng NVL, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, tỷ số k2 tăng nhanh trong giai đoạn 2012 – 2014, tức là tốc độ tăng của thu nhập người lao động nhiều hơn tốc độ tăng của diện tích khai thác-nuôi  trồng NVL, đây  là  biểu  hiện của  xu hướng  bền vững. Ngược  lại, tỷ số  k2 giảm nhanh trong giai đoạn 2015-2017, đồng nghĩa với tốc độ tăng của thu nhập người lao động không nhiều hơn tốc độ tăng của diện tích khai thác nuôi trồng NVL, đây là biểu    hiện của xu hướng không bền vững.