Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội, lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Quinn, Mintzbert và Jame (1987) chỉ ra rằng, thực hiện trách nhiệm xã hội là nhiệm vụ quan trọng. Xuất phát từ lãnh đạo thì các doanh nghiệp khác nhau sẽ có những hoạt động trách nhiệm xã hội khác nhau. Doanh nghiệp có gia tăng hay giảm đi việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào việc lãnh đạo. Song, những nhà nghiên cứu khác nhau có những định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau về lãnh đạo (Stogdill, 1974). Moore (1927) đã đưa ra những nhận định rằng lãnh đạo là gây ấn tượng, tạo sự thán phục, lòng trung thành và sự hợp tác.

Luận án lựa chọn khái niệm lãnh đạo chuyển đổi để nghiên cứu với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là hợp lý, song có một mâu thuẫn xảy ra là khi nghiên cứu mối quan hệ giữa lãnh đạo và hiệu quả hoạt động thì thường những nhà nghiên cứu lại chọn lãnh đạo giao dịch và chứng minh được lãnh đạo giao dịch tác động dương đến hiệu quả hoạt động. Song khi nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thì lãnh đạo giao dich lại có mối quan hệ ngược chiều, Dvir và cộng sự (2002) đã nhận định rằng lãnh đạo chuyển đổi là lãnh đạo tạo ra động lực như vậy lãnh đạo chuyển đổi sẽ làm phát huy tiềm năng và hiệu quả cao nhất trong công việc cho nhân viên, Lee và Chuang (2009), khẳng định truyền cảm hứng và đáp ứng yêu cầu của nhân viên trong quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức cũng là lãnh đạo chuyển đổi vì vậy lãnh đạo chuyển đổi tác động dương đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, song trong ngắn hạn lại tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cùng quan điểm trên Burn (1978) cũng nhận xét rằng lãnh đạo chuyển đổi chuyển dần từ việc nhân viên chỉ quan tâm đến sự tồn tại và lợi ích cá nhân sang việc quan tâm đến lợi ích của doanh nghiệp. Như vậy, khi nghiên cứu trong dài hạn có thể dự báo được mối quan hệ này là dương hay cùng chiều. Trong khi đó Hughes và cộng sự (1994) nhận định rằng lãnh đạo chuyển đổi là sắp xếp con người  và hệ thống công việc sao cho mang tính chiến lược, Humphries (2001), lại cho rằng lãnh đạo giao dịch là đề cao sự thể hiện phong cách nhất, trao đổi giữa nhân viên và lãnh đạo sao cho lợi ích đạt được của nhân viên và lãnh đạo đều đạt được. Nhân viên sẽ đạt được lợi ích tài chính và lãnh đạo đạt được mục tiêu. Như vậy, theo Northouse (2004), nhà lãnh đạo giao dịch trao đổi các giá trị với cấp dưới để nâng cao hiệu quả của cấp dưới và của cả nhà lãnh đạo.

Burn, (1978); Waldman và cộng sự (1987) đã đưa ra nhận xét rằng lãnh đạo giao dịch thúc đẩy nhân viên bằng phần thưởng, trong khi đó Bass (1985) lại nhận  định khác rằng lãnh đạo giao dịch theo phương châm là đạt được hiệu quả song đó là những mục tiêu trong ngắn hạn, không chứng minh được hiệu quả trong dài hạn. Boehnke và cộng sự (2003) cho rằng lãnh đạo chỉ quan tâm đến việc có người thực hiện các nhiệm vụ cần thiết cho tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra, cùng với đó House và Aditya (1997) cũng nhận xét lãnh đạo giao dịch làm cho con đường đạt được mục tiêu phải rõ ràng để từ đó nhân viên phấn đấu đạt được mục tiêu của cá nhân và của tổ chức.