Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội, lợi ích kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả của doanh nghiệp đã được làm rõ ở mục 2.2.1, phần này sẽ làm rõ mối quan hệ trung gian đó là lợi ích kinh doanh – lợi ích kinh doanh bao gồm danh tiếng, doanh số bán hàng, lòng trung thành của khách hàng, tăng khả năng thu hút và giữ chân nhân viên, tiết kiệm chi phí và tăng khả năng tiếp cận vốn – có sự tồn tại một mối quan hệ phức tạp (Archer và Haire, 1975; Moore, 2001; Barnett và Salomon, 2002)

Becker-Olsen và cộng sự (2006) cho thấy rằng thực hiện trách nhiệm xã hội không phải là một công cụ để đánh bóng tên tuổi doanh nghiệp mà đó hoạt động vì lợi ích của người tiêu dùng và vì doanh nghiệp, đó là niềm tin của người tiêu dùng. Khi doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của doanh nghiệp của họ, nghĩa là hành vi mua hàng sẽ bị tác động, dẫn đến quyết định mua hàng của khách hàng bị tác động (Brennan, 2002). Khách hàng sẵn sàng chi trả nhiều tiền hơn cho doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội (William, 2005), khách hàng cũng sẵn sàng trừng phạt doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội hoặc sẽ tẩy chay, hoặc sẽ buộc doanh nghiệp bán hàng với giá rẻ hơn (Creyer và Ross, 1997).

Ruf và cộng sự (1998) cho thấy rằng có mối quan hệ tích cực giữa thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và doanh số bán hàng, khi doanh nghiệp công khai việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ dẫn đến doanh số bán hàng tăng trưởng tốt ((Prado-Loenzo và cộng sự, 2008). Sweneey (2009) chứng minh được rằng doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội của mình giúp cho doanh thu gia tăng, cũng trong nghiên cứu này đã cho thấy rằng không những doanh thu tăng mà lòng trung thành  của khách hàng cũng được khẳng định.

Bên cạnh đó, Nevill và cộng sự (2005), đã tìm thấy danh tiếng là một biến trung gian của mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động, bên cạnh các biến trung gian đó là sự trung thành của khách hàng, sự trung thành của nhân viên và khả năng tiếp cận vốn. Danh tiếng lại là yếu tố rất quan trọng cho sự thành công của doanh nghiệp (Roberts và công sự, 2002), là yếu tố quan trọng hơn nữa trong bối cảnh hiện nay trong thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt (Martin, 2009). Roberts (2003), danh tiếng tốt sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp, ngược lại danh tiếng xấu sẽ làm giảm giá trị của sản phẩm/dịch vụ doanh nghiệp cung cấp. Doanh nghiệp có danh tiếng tốt trên thị trường có thể cho phép chính doanh nghiệp đó bán sản phẩm/dịch vụ với giá cao hơn (Fornbrun và Shanley, 1990) và trong lĩnh vực tiêu dùng, danh tiếng tốt giúp doanh nghiệp thành công dài lâu hơn (Murray, 2003)

Khi doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội tốt sẽ dẫn đến việc nâng cao danh tiếng và khả năng tiếp cận vốn tốt như là việc tăng khả năng thu hút vốn kinh doanh (Schiebel và Pochtrager, 2003). Chính việc thực hiện trách nhiệm xã hôi của doanh nghiệp là động lực để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao được danh tiếng (Pfau và cộng sự, 2008). Theo Roberts và Dowling (2002) doanh nghiệp có danh tiếng tốt giúp cho các nhà cung cấp ít chú ý đến rủi ro của doanh nghiệp khi kinh doanh cùng nhau.

Danh tiếng doanh nghiệp tốt cũng giúp cho doanh nghiệp thu hút được nguồn lao động tốt hơn và dồi dào hơn (Schnietz và Shanley, 1990). Danh tiếng còn giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và thu hút nhà đầu tư tốt hơn (Fombrun và Shanley, 1990; Schnietz và Epstein, 2005).

Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy gia tăng danh tiếng cho doanh nghiệp đồng thời điều này cũng giúp cho người tiêu dùng phân biệt được doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh trong ngành (Mc Willlams, 2001). Thật vậy, nghiên cứu của Spicer (1978), Mc Willlams (2001), Fornbrun và cộng sự (2000), Roberts và Dowling (2002), Spcer (1978), Porter và Van Der Linde (1995), Uadial và Fagberni (2012) cho rằng thực hiện trách nhiệm xã hội làm tăng lợi thế về danh tiếng cho doanh nghiệp từ đó cải thiện sự tín nhiệm của các nhà đầu tư, tạo cơ hội cho việc thâm nhập vào những thị trường mới, giúp thị trường vốn phản ứng tích cực với doanh nghiệp và như thế sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Về yếu tố người lao động trong khái niệm lợi ích kinh doanh, đó là tài dản thiết yếu và quý giá của doanh nghiệp; Khi doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ làm tăng tính hấp dẫn của doanh nghiệp đối với các nhân viên tiềm năng.(Bachhaus và cộng sự, 2002). Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội và sự hài lòng của nhân viên của doanh nghiệp có mối quan hệ tích cực theo nghiên cứu của Koh và Boo (2001). Đồng thời giúp nhân viên gắn bó và có động lực ở lại lâu hơn với doanh nghiệp. Chính điều này cũng tác động đến năng suất làm việc của người lao động  trong doanh nghiệp (Mittal và cộng sự, 2008).

Việc doanh nghiệp có khả năng thu hút nhân tài và giữ nhân tài là rất quan trọng, thực hiện trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp thực hiện được việc này (Hopkins, 2003). Smith (2004) cho rằng khi thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thì yếu tố về cộng đồng và môi trường có tác động quan trọng trong việc tuyển dụng. Theo Turban & Grening (2000), doanh nghiệp có xếp hạng thực hiện trách nhiệm xã hội cao hơn sẽ dẫn đến việc sử dụng lao động được hấp dẫn hơn, điều này giúp doanh nghiệp thu hút lao động dễ dàng hơn và hiệu quả hơn. Tương tự, Mc Kinsey cũng đưa ra nhận định trong nghiên cứu năm 1991 rằng doanh nghiệp gây tổn hại đến môi trường sẽ gặp khó khăn trong việc tuyển dụng và giữ lại nhân viên có  năng lực cao.

Trong nghiên cứu của Dechant và Altman (1994); Pharoah (2003) đã chỉ ra rằng thực hiện trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp gia tăng doanh số và gia tăng hiệu quả của việc tuyển dụng và giữ chân nhân viên. Hopkins 2003, cũng tìm thấy lợi ích rõ ràng nhất khi doanh nghiệp tham gia thực hiện trách nhiệm xã hội đó là tăng tin thần, lòng trung thành và sự hài lòng của nhân viên. Như vậy, có thể kết luận được rằng có mối quan hệ tích cực giữa nhận thức về thực hiện trách nhiệm xã hội của nhân viên và việc cam kết trung thành của nhân viên đối với tổ chức của họ (Schiebel và Pochtranger, 2003).

Lợi ích kinh doanh còn được đánh giá thông qua việc tiếp cận vốn đầu tư. Waddock và Grave (1997) đã kết luận được rằng các nhà đầu tư thường hướng việc đầu tư về phía doanh nghiệp có thực hiện trách nhiệm xã hội cao hơn phía những doanh nghiệp còn lại. Cũng đồng tình với quan điểm này Roberts và cộng sự (2002) đã nhận định việc thực hiện trách nhiệm xã hội chính là chìa khóa để doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn, cũng chính điều này cũng làm cho doanh nghiệp hấp dẫn với nhà đầu tư hơn và gày càng có nhiều nhà đầu tư lựa chọn đầu tư cho những tổ chức hay doanh nghiệp có thực hiện trách nhiệm xã hội tốt (Burm, 2008). Hơn thế nữa, Sweeney (2009) cho rằng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp sẽ tác động đến hiệu quả của doanh nghiệp.

Như vậy, có một mối quan hệ phức hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm xã hội và danh tiếng, lòng trung thành của nhân viên, lòng trung thành của khách hàng, khả năng tiếp cận vốn cũng như từ các yếu tố trên của lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Sau đây là bảng 2.3 tổng hợp các khái niệm về lợi ích kinh doanh và các thang đo của các khái niệm này. Như vậy, lợi ích kinh doanh được đo lường bằng các khái niệm: thu hút, duy trì động lực của nhân viên, thu hút khách hàng và lòng trung thành của khách hàng, danh tiếng của doanh nghiệp, khả năng tiếp cận vốn theo các lược khảo đã được trình bày ở phần trên.