Môi trường chính trị – luật pháp trong marketing

Môi trường chính trị và luật pháp tạo nên một khung khác biệt trong môi trường và điều kiện kinh doanh ở mỗi quốc gia.

Môi trường chính trị- luật pháp bao gồm thể chế chính trị, sự ổn định của chính phủ, hệ thống các văn bản pháp quy, chính sách, các đạo luật, bộ luật và các quy định, hướng dẫn thi hành của từng quốc gia. Các doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh vào một khu vực thị trường mới, họ thường tập trung nghiên cứu kĩ lưỡng hệ thống luật pháp và các chính sách của quốc gia đó để xây dựng kế hoạch kinh doanh thích hợp.

Môi trường chính trị – luật pháp của các quốc gia phản ánh khả năng phát triển của quốc gia đó cả đối nội và đối ngoại. Đường lối, định hướng của Đảng cầm quyền ảnh hưởng quyết định đến xu hướng đối nội, đối ngoại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Sự tác động của môi trường chính trị-luật pháp ảnh hưởng vĩ mô đến môi trường hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

1. Yếu tố chính trị

Hệ thống chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng quyết định đến xu hướng đối nội và đối ngoài của quốc gia. Lịch sử phát triển thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột về chính trị giữa các quốc gia khác nhau như thời kỳ đối đầu của các quốc gia theo hệ thống xã hội chủ nghĩa và các quốc gia theo hệ thống tư bản chủ nghĩa. Thông thường đi liền với xung đột về chính trị là xung đột về ngoại gia và kinh tế. Hệ thống thể chế chính trị có thể tạo điều kiện hay gây nên rủi ro không lường trước được đối với các doanh nghiệp khi tham gia vào thương mại quốc tế hay xuất khẩu hàng hoá vào các quốc gia. Một doanh nghiệp kinh doanh quốc tế luôn bị ảnh hưởng bởi chính sách, thể chế của nước chủ nhà cũng như nước nhập khẩu hay đầu tư.

Nghiên cứu môi trường chính trị là một phần không thể thiếu đối với các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường nước ngoài.
Môi trường chính trị lý tưởng cho doanh nghiệp là một chính phủ ổn định và thân thiện. Những thay đổi về quan điểm và mục đích của chính phủ có thể cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp thành hiểm hoạ. Những thay đổi có thể bắt nguồn từ sự thay đổi của đảng phái chính trị cầm quyền, hay do điều kiện kinh tế yếu kém nên chính phủ phải rút lại các cam kết thương mại trước đó, .. Tuy nhiên, mối quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp vẫn là tính liên tục của các qui định, nguyên tắc ứng xử cho dù bất kỳ đảng phái nào đang nắm quyền. Một thay đổi trong chính phủ, cho dù là do bầu cử hay đảo chính không phải lúc nào cũng có nghĩa là thay đổi mức độ rủi ro chính trị. Trái lại những thay đổi cơ bản trong chính sách có thể tạo ra những bất ổn lớn, ví như thay đổi chính sách kinh tế mở của Việt Nam thập kỷ 80. Một sự thay đổi đột ngột không lường trước được trong chính sách của chính phủ cũng có thể làm cản trở hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, bất kể nguyên nhân của thay đổi là gì.

Bên cạnh việc xem xét thể chế chính sách, vấn đề chủ nghĩa dân tộc cũng cần được quan tâm đúng mức. Đây là một trong những nhân tố chính trị ảnh hưởng đến tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh. Chủ nghĩa dân tộc có thể được mô tả chính xác nhất như là sự đoàn kết và niềm tự hào dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc trong kinh tế vẫn tồn tại ở tất cả các quốc gia với những mức độ khác nhau. Đây là một trong các nhân tố làm giảm tính hấp dẫn của thị trường. Quản điểm cộng đồng thường có xu hướng chống lại sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài, bảo tồn quyền tự chủ về kinh tế của các quốc gia. Để nâng cao tính dân tộc, người tiêu dùng có thể đẩy mạnh phong trào “chỉ mua hàng nội”, hạn chế nhập khẩu, áp dụng thuế quan và các rào cản thương mại… (như ở Việt Nam, “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” ).

Quốc hữu hóa, nội địa hóa và các rủi ro khác từ chính sách kiểm soát ngoại hối , kiểm soát giá cả… là món quà không được lựa chọn mà môi trường chính trị dành cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các Chính phủ cũng tìm mọi cách nội địa hóa tài sản nước ngoài bằng việc: (1) chuyển giao từng phần hoặc toàn bộ sang cho công dân nước mình; (2) Dành cho công dân nước mình những chức vụ quản lý cao hơn trong doanh nghiệp nước ngoài; (3) Dành cho công dân nước mình quyền hạn nhiều hơn; (4) Yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm cao hơn; (5) đưa ra các qui định về xuất khẩu nhằm tác động tới sự tham gia trên thị trường thế giới… Những biện pháp này có thể được áp dụng riêng biệt hoặc đồng thời trong cùng thời kỳ nhằm mục đích cuối cùng là chuyển quyền kiểm soát sang cho công dân nước chủ nhà.

Bên cạnh những rủi ro kinh tế, doanh nghiệp nước ngoài còn có thể bị kẹt giữa những tranh chấp chính trị trong một quốc gia và trở thành nạn nhân vô tình của các cuộc xung đột chính trị, tôn giáo.. . Vì những lý do chính trị, một quốc gia có thể tảy chay một quốc gia khác và như thế cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt các họat động thương mại giữa hai quốc gia.

Các vấn đề chính trị nhạy cảm là cái mà doanh nghiệp cần hết sức quan tâm, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến cộng đồng. Các nhà đầu tư nước ngoài thường bị kết tội là khai thác sự giàu có của một quốc gia với chi phí của chính người dân quốc gia đó để phục vụ lợi ích cho riêng mình. Điều đó sẽ dẫn đến rủi ro chính trị tăng cao. Các rủi ro chính trị liên quan đến cộng đồng như chủ nghĩa dân tộc, quyền dân chủ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…
Với tầm ảnh hưởng như vậy, vấn đề dự đoán rủi ro chính trị là hoạt động không thể thiếu trong doanh nghiệp. Đánh giá rủi ro chính trị là một nỗ lực giúp các nhà quản lý xác định và đưa ra các quyết định kịp thời.

Doanh nghiệp có thể giảm bớt rủi ro chính trị bằng các biện pháp sau :

Tăng cường hoạt động liên doanh. Liên doanh về cơ bản giảm bớt nhạy cảm với các rủi ro chính trị. Liên doanh có thể giúp giảm thái độ chống đối các doanh nghiệp nước ngoài của người dân quốc gia đó và tăng thêm tiềm lực đàm phán với nước chủ nhà.

Mở rộng cơ sở đầu tư, gộp nhiều nhà đầu tư, ngân hàng trong việc tài trợ cho một khoản đầu tư ở nước chủ nhà. Phương pháp này tạo thêm sức mạnh của các ngân hàng trước đe dọa sung công hoặc xâm phạm của Chính phủ. Phương pháp này trở nên đặc biệt có hiệu quả khi chính phủ đó đang là con nợ của các ngân hàng. Khi đó ngân hàng tài trợ có sức mạnh đáng kể trong đàm phán với Chính phủ.

Kiểm soát họat động marketing và phân phối hàng hóa trên thị trường thế giới có thể là một cách giảm thiểu rủi ro. Khi quốc gia sung công một khoản đầu tư thì quốc gia đó cũng mất luôn con đường ra thị trường thế giới.

Doanh nghiệp cũng có thể thực hiện việc cấp giấy phép sử dụng công nghệ hay bản quyền để thu phí bản quyền. Tuy nhiên, cũng có trường hợp bên mua bản quyền từ chối thành toán phí nhưng vẫn sử dụng công nghệ, ví dụ như họat động sản xuất thuốc chống bệnh aid của nhiều quốc gia.
Để ngăn chặn và giảm thiểu ảnh hưởng của việc sung công, doanh nghiệp có thể thực hiện nội địa hóa theo kế họach. Với cách này doanh nghiệp tăng được khả năng thu từ đầu tư và giảm thiệt hại đến mức thấp nhất.

Luật pháp điều chỉnh các họat động kinh tế trong nội bộ một quốc gia và giữa các quốc gia là một phần không thể tách rời môi trường kinh doanh. Hệ thống luật pháp ở các quốc gia trên thế giới tồn tại đa dạng và phức tạp. Việc nghiên cứu và trình bày riêng rẽ pháp luật của mỗi quốc gia là vấn đề không thể chuyển tải trong phạm vi cuốn sách này. Trong phần này chủ yếu trình bày những vấn đề mang tính chung, khái quát nhất các yếu tố luật pháp.

Cơ sở của hệ thống luật pháp của các quốc gia trên thế giới tập trung trên bốn di sản nền tảng:

(1) Luật Hồi giáo, bắt nguồn từ kinh Coran, được áp dụng tại các nước hồi giáo. Cơ sở của luật Hồi giáo là diễn giải kinh Coran. Luật này gồm những nghĩa vụ tôn giáo cũng như những khía cạnh thế tục điều chỉnh hành vi của mỗi con người. Mục tiêu tối cao của hệ thống luật hồi giáo là công bằng xã hội. Một trong nhữngk hía cạnh khác thường nhất của luật Hồi giáo là cấm trả lãi. Việc này ảnh hưởng mạnh đến họat động kinh doanh ngân hàng. Kinh doanh trên thị trường theo luật Hồi giáo, doanh nghiệp phải hiểu được cách diễn giải luật tại mỗi khu vực.

(2) Thông luật hay luật bất thành văn (Common law): cở sở của thông luật là những tập quán, án lệ trong quá khứ, thông qua việc diễn giải về tình trạng, quy định pháp lý và cách xử án trong quá khứ. Thông luật giải quyết vấn đề thông qua những phán quyết của tòa án cấp cao hơn trong những tình huống giống nhau trong quá khứ hay những nguyên tắc luật pháp đã được xác định mang tính tập quán, sử dụng trong những sự kiện tường tự. Xu hướng hiện này, các nước áp dụng thông luật tiến hành văn bản hóa luật thương mại, mặc dù cơ sở của luật là án lệ. Ví dụ như ở Mỹ, phần lớn các Bang chấp nhận áp dụng bộ luật Thương mại thống nhất. Thông luật được áp dụng tại Anh, Mỹ, Canada (trừ Quebec)

(3) Luật thành văn (Civil law hay code law) bắt nguồn từ luật La mã. Luật Thành văn dựa trên cơ sở hệ thống đầy đủ những qui tắc luật pháhp đã được văn bản hóa (các bộ luật). Hệ thống luật pháp trong luật Thành văn được chia thành ba bộ luật: thương mại, dân sự và hình sự. Hầu hết các qui định trong luật thành văn qui định các điều khoản chung chung có thể áp dụng trong mọi trường hợp. Luật Thành văn được áp dụng tại Đức, Nhật, Pháp, .. và các nước không thuộc nhóm nước Hồi giáo cũng như nhóm các nước xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề sở hữu trí tuệ là vấn đề khác nhau lớn nhất giữa luật Thành văn và Thông luật. Theo thông luật, quyền sở hữu được thiết lập thông qua việc sử dụng còn theo luật Thành văn, quyền sở hữư được xác định thông qua việc đăng ký.

(4) Luật Xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ hệ thống tư tưởng của Mác, hiện nay được áp dụng tại một số nước cộng hòa mới độc lập tách từ Liên Xô cũ, Trung Quốc, các nước chủ nghĩa xã hội khác. Luật Xã hội chủ nghĩa xoay quanh những những khái niệm cơ bản về chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Chính phủ. Các nước xã hội chủ nghĩa thường là những nước trước kia có hệ thống pháp luật bắt nguồn từ luật La mã hay hệ thống luật Thành văn. Do đó, đặc điểm của hệ thống luật này còn lưu giữ cả những nét tương đồng với luật La mã và luật Thành văn.

Các chuyên gia marketing khi kinh doanh quốc tế cần phaỉ lưu tâm tới sự khác biệt giữa các hệ thống luật khi họat động tại các quốc gia này. Bởi vì, ngay cả khi luật pháp của các quốc gia được dựa trên một trong bốn nguồn luật thì cách hiểu và vận dụng của các quốc gia cũng rất khác nhau.

Nếu một quốc gia có hệ thống luật pháp không ổn định và thiếu đồng bộ, sẽ gây ra tâm lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chỉ có tính chất tạm thời, không có dự án đầu tư dài hạn và quy mô lớn. Bên cạnh đó, số lượng các nhà đầu tư có khả năng chấp nhận mạo hiểm đầu tư vào các quốc gia này rất hạn chế.

Quan điểm của đảng lãnh đạo, cơ chế điều hành của chính phủ tạo ra tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp. Cơ chế điều hành của chính phủ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế ban hành luật pháp, tính hiệu lực của luật pháp và các chính sách kinh tế.

Ngày nay, khi thế giới trong tiến trình thống nhất, môi trường luật pháp ở mỗi quốc gia đều có sự hoà đồng với các quy định chung của quốc tế. Cho nên, đối với doanh nghiệp khi nghiên cứu thị trường nước ngoài cần nghiên cứu theo 3 phương diện:

(1). Môi trường chính trị luật pháp của nước chủ nhà (nước xuất khẩu): môi trường này có ảnh hưởng đối với marketing quốc tế của các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua các cơ hội xuất khẩu, áp dụng các biện pháp bảo vệ xuất khẩu (chống vi phạm bản quyền tại nước nhập khẩu), hình thành các khu vực sản xuất cho xuất khẩu (khu chế xuất). Các yếu tố cơ bản của môi trường luật pháp, vai trò của Chính phủ chủ nhà thể hiện ở: cấm vận và trừng phạt kinh tế; kiểm soát xuất khẩu (kích thích, hỗ trợ, quản lý và hạn chế xuất khẩu); kiểm soát nhập khẩu (thuế, giấy phép); điều tiết hành vi kinh doanh quốc tế…

(2). Môi trường chính trị- luật pháp của nước sở tại: ảnh hưởng của chính quyền sở tại đối với các doanh nghiệp nước ngoài thay đổi đáng kể từ nước này sang nước khác. Người làm marketing quốc tế cần cân nhắc những vấn đề sau:

+ Thái độ đối với các nhà đầu tư nước ngoài: ví dụ ấn Độ, Việt Nam khống chế ngoại tệ chuyển ra nước ngoài, quy định hạn ngạch nhập khẩu, hay xuất khẩu.

Theo quyết định 718 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, kể từ 22/12/2001, các dự án đầu tư nước ngoài trên một số lĩnh vực phải đảm bảo xuất khẩu ít nhất 80% sản phẩm. Danh mục bao gồm 14 sản phẩm: xe máy 2 bánh, xe ô tô du lịch, xe tải dưới 10 tấn; máy bơm nước thuỷ lợi dưới 30.000m3/h, máy bơm nước sinh hoạt dưới 540m3/h; dây cáp điện trung và hạ thế; dây cáp thông tin thông thường; tàu vận tải biển dưới 30.000DWT, tàu đánh cá dưới 1.000 CV; các sản phẩm nghe nhìn; các sản phẩm nhôm hình; thép xây dựng phí dưới 40mm; phân NPK; nhựa PVC; xe đạp và phụ tùng; các loại máy biến áp phân phối dưới 35KV; động cơ diesel dưới 15CV. Các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất các sản phẩm sau sẽ không còn bị bắt buộc xuất khẩu ít nhất 80% sản phẩm bao gồm: gạch ốp lát, sứ vệ sinh; chất tẩy rửa; sơn thường và sơn xây dựng; ắc quy (chì và axit); vở và ruột xe đạp, xe máy; xút (NaOH) và axit; quạt điện các loại; các sản phẩm may mặc, các sản phẩm da giầy; các sản phẩm nhựa gia dụng.

+ Sự ổn định chính trị, hệ thống chính trị dễ thay đổi thì chính sách đối với tư bản và hàng hoá nước ngoài cũng thay đổi. Khi nghiên cứu marketing quốc tế, các nhà kinh doanh cần xây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng với đặc điểm của môi trường.

+ Thủ tục hành chính: thủ tục hải quan, thu thập thông tin, tiếp xúc thương mại, nạn hối lộ… trong những tình huống như vậy, marketing cần áp dụng những dạng khác nhau, phức tạp và hoà nhập hơn, đó là “supermarketing”.

+ Các chính sách bảo hộ: thực tế kinh doanh quốc tế ngày nay phải đối mặt với một thế giới của thuế quan, hạn ngạch và những rào cản phi thuế được thiết kế nhằm bảo vệ thị trường một nước khỏi sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài. Dù Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch đã có hiệu lực trong việc giảm bớt các rào cản về thuế, song các nước vẫn sử dụng các biện pháp bảo hộ. Các quốc gia sử dụng các rào cản luật pháp, rào cản hối đoái, rào cản tâm lý nhằm hạn chế hàng hóa vào quốc gia mình. Ngay bản thân các doanh nghiệp cũng hợp tác với nhau để thiết lập các rào cản thị trường đối với hàng hóa nhập khẩu. Hệ thống phân phối phức tạp ở Nhật Bản là một ví dụ điển hình về rào cản bảo hộ của cấu trúc thị trường đối với thương mại.

+ Các tiêu chuẩn: rào cản phi thuế quan loại này bao gồm những tiêu chuẩn nhằm bảo vệ sức khỏe, an toàn, chất lượng sản phẩm. Các tiêu chuẩn này nhiều khi được sử dung jquá mức chặt chẽ và quá phân biệt nhằm hạn chế thương mại.

Ngày nay, với xu hướng khu vực hoá nền kinh tế, bên cạnh các quy định của từng quốc gia, các quy định của khu vực cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp. Ví như quy định của EU đối với bao bì và dư lượng chất kháng sinh có trong sản phẩm thuỷ hải sản, nông sản nhập khẩu khu vực thị trường này.

(3). Nghiên cứu môi trường luật pháp quốc tế như Incoterms 2000, UCP 500, …. các yếu tố môi trường này điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia khác nhau theo một quy định chung. Đây là nội dung nghiên cứu tất yếu đối với các doanh nghiệp khi tham gia vào thương mại quốc tế. Đặc biệt trong điều kiện xu thế phát triển toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay. Việc buôn bán giữa các quốc gia thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, quy tắc quốc tế chung.

Khi tranh chấp thương mại quốc tế xảy ra, việc xác định nguồn luật sử dụng cũng là một vấn đề marketing quốc tế quan tâm. Rất nhiều người cho rằng một tranh chấp xảy ra giữa công dân của các quốc gia sẽ được luật pháp của siêu quốc gia giải quyết. Nhưng đáng tiếc là không hề tồn tại một hệ thống luật pháp siêu quốc gia để giải quyết xung đột phát sinh giữa công dân các nước khác nhau. Tòa án quốc tế tồn tại (Tòa án tại Hague và Tòa tư pháp quốc tế) chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia có chủ quyền trên thế giới chứ không giải quyết tranh chấp giữa các tổ chức tư nhân.

Tranh chấp có thể phát sinh giữa các Chính phủ; giữa một doanh nghiệp với Chính phủ và giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Tranh chấp giữa các Chính phủ có thể được giải quyết tại Tòa án quốc tế, trong khi tranh chấp giữa Chính phủ với doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau được xét xử tại tòa án quốc gia của một trong hai bên hoặc giải quyết thông qua trọng tài. Do không có “luật Thương mại quốc tế” nên tranh chấp giữa các doanh nhân phải sử dụng đến luật pháp quốc gia liên quan. Vậy câu hỏi đặt ra đối với doanh nghiệp là: Luật nào sẽ điều chỉnh những tranh chấp này?.

Nguồn luật có thể xác định trên cơ sở (1) điều khoản luật áp dụng đã ghi trong hợp đồng; (2) nơi ký kết hợp đồng; (3) nơi thực hiện hợp đồng.

Một trong các vấn đề luật pháp được quan tâm đặc biệt hiện nay ở cả tầm vĩ mô và vi mô đó chính là vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Một doanh nghiệp hàng năm đầu tư nhiều triệu USD cho việc tạo lập nhãn hiệu, biểu tượng, uy tín. Họ cũng phải đầu tư nhiều triệu USD nữa cho họat động nghiên cứu phát triển sản phẩm, qui trình sản xuất, mẫu mã giúp cho doanh nghiệp tạo lập một lợi thế cạnh tranh trên thương trường. Các đối tượng sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ thuộc vào những tài sản có giá trị nhất trong doanh nghiệp. Nhưng hầu hết tất cả những sản phẩm, những nhãn hiệu nổi tiếng, có uy tín đều bị làm giả, làm nhái, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Điều này đồng nghĩa với việc doanh số thiệt hại, uy tín của doanh nghiệp bị sụt giảm, hàng triệu việc làm bị mất. Trước tình hình này, vòng đàm phán Urugoay của WTO đã xây dựng hệ thống chuẩn mực bảo hộ sở hữu trí tuệ (TRIPS) và tạo điều kiện thực thi có hiệu quả những chuẩn mực này trong phạm vi quốc gia và quốc tế.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • môi trường chính trị là gì
  • vi dụ 1 doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi chính trị
  • ,