Môi trường kinh tế trong marketing

Môi trường kinh tế quyết định sức hấp dẫn của thị trường xuất khẩu. Các yếu tố chủ chốt trong môi trường kinh tế của một quốc gia mà doanh nghiệp thường quan tâm đó là mức độ tăng trưởng kinh tế, mức sống, cơ cấu dân cư và sự phân chia giai tầng xã hội…..

Tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia: phản ánh khả năng tiêu thụ hàng hoá của thị trường. Khi một quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao, khả năng tiêu thụ hàng hoá trên thị trường tăng lên, nhu cầu nhập khẩu và khả năng trao đổi hàng hoá cũng lớn hơn. Khi một thị trường có tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, lạm phát gia tăng, người tiêu dùng trên thị trường đó sẽ hạn chế mua sắm các sản phẩm xa xỉ, thắt chặt chi tiêu, tăng cường tiết kiệm. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng người tiêu dùng trên thị trường tăng cường tích luỹ, gia tăng mua hàng hoá có giá rẻ. Một số người tiêu dùng gác lại việc mua sắm những hàng hóa tiêu dùng lâu bền, một số kkhác lại tăng cường mua sắm vì sợ rằng thời gian tới giá sẽ tăng lên. Yếu tố này tác động làm cho thị trường biến động bất ổn, giảm khả năng an toàn trong kinh doanh của các doanh nghiệp.

Tỷ lệ lạm phát, giảm phát cũng ảnh hưởng đến khả năng chi trả của nền kinh tế trong việc tham gia thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu hàng hoá.

Trong kinh tế, một yếu tố các chuyên gia phân tích kinh tế cũng như doanh nghiệp đánh giá quan trọng đó là tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thanh toán của một quốc gia cho thấy một cái nhìn tổng quan về vị trík inh tế quốc tế của nó và là cách đo lường kinh tế quan trọng trong đánh giá tính ổn định kinh tế trong và ngoài nước.

Mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phản ánh khả năng của quốc gia đó trong việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, quyết định khả năng chi trả của người tiêu dùng trong hiện tại và tương lai. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao khả năng tiêu dùng hàng hoá cao cấp và mở rộng việc tiêu dùng lớn. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng chậm người tiêu dùng sẽ có xu hướng thắt chặt chi tiêu, tăng cường tiết kiệm.

Nếu phân chia theo GNP có thể chia các quốc gia trên thế giới thành 5 nhóm (bảng 2.1).

Cơ cấu kinh tế của quốc gia có ảnh hưởng lớn đến khả năng tham gia vào thương mại quốc tế của quốc gia đó. Nếu căn cứ vào cơ cấu kinh tế có thể chia thành 4 nhóm quốc gia như sau:

+ Nhóm 1: nhóm các quốc gia có nền kinh tế hiện vật: Đặc trưng của nhóm các quốc gia này là lao động trong nông nghiệp chiếm đa số, nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp, khả năng tham gia thương mại quốc tế rất hạn chế do năng lực xuất khẩu thấp.

+ Nhóm 2: Nhóm các quốc gia có cơ cấu kinh tế xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu. Nhóm này chủ yếu bao gồm các quốc gia có tài nguyên thiên nhiên nhưng không có tiềm lực kinh tế nên chủ yếu khai thác tài nguyên và xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô. Các quốc gia này hình thành một thị trường nhập khẩu triển vọng đối với các thiết bị phục vụ khai thác và vận chuyển, một nguồn xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu cho thị trường thế giới.

Đối với hàng hoá tiêu dùng, nhóm các quốc gia này có khả năng nhập khẩu một số mặt hàng cao cấp phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư.

+ Nhóm 3: Nhóm các quốc gia có nền kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hoá. ở nhóm quốc gia này, tỷ lệ hàng hoá thuộc ngành công nghiệp chế biến ngày càng gia tăng. Cơ cấu nhập khẩu là nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị . Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu là các mặt hàng đã qua sơ chế hoặc chế biến. Đối với hàng tiêu dùng, quá trình công nghiệp hoá hình thành một nhóm người tiêu dùng giàu có, tầng lớp trung lưu gia tăng hình thành một khhu vực thị trường khá lớn đối với các hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài.

+ Nhóm 4: nhóm các quốc gia có nền kinh tế công nghiệp hoá. Các quốc gia này có hệ thống cơ sở hạ tâng hết sức phát triển cho phép xuất khẩu cả thành phẩm và tư bản. Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của quốc gia này cũng rất đa dạng. Nhóm các quốc gia này nhập khẩu cả nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Đây là thị trường tiềm năng cho tất cả các loại hàng hoá cả phục vụ sản xuất và phục vụ nhu cầu tiêu dùng.

Mức sống của người tiêu dùng ở mỗi quốc gia cũng tác động mạnh đến nền kinh tế và khả năng tham gia vào thương mại quốc tế của quốc gia đó. Nếu căn cứ vào mức sống, có thể chia các quốc gia trên thế giới thành 5 nhóm.

+ Nhóm 1: nhóm các quốc gia có mức sống thấp: phần lớn nền kinh tế trong nước xây dựng trên cơ sở tự cung tự cấp, sản phẩm sản xuất đơn giản, trình độ công nghệ lạc hậu.

+ Nhóm 2: nhóm các quốc gia có mức sống tương đối thấp: phần lớn hàng hoá tiêu dùng được sản xuất bởi các doanh nghiệp trong nước. Các quốc gia này có khả năng trao đổi với bên ngoài hạn chế.

+ Nhóm 3: nhóm các quốc gia có mức sống chênh lệch được đặc trưng bởi tình hình thị trường khá đặc biệt. Đại bộ phận dân cư có mức sống thấp dựa vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên đã hình thành một bộ phận người tiêu dùng giàu có, có khả năng tiêu dùng hàng nhập khẩu.

+ Nhóm 4: nhóm các quốc gia có mức sống chênh lệch. Trong nền kinh tế này tồn tại một tầng lớp giàu có và tầng lớp nghèo khó. ở giữa hai tầng lớp này đã hình thành một tầng lớp người tiêu dùng trung lưu do quá trình công nghiệp hoá mang lại. Quốc gia thuộc nhóm này hình thành thị trường tiêu dùng tương đối phong phú đối với tất cả các loại hàng hoá.

+ Nhóm 5: nhóm các quốc gia có mức sống cao. Đặc trưng cơ bản của nhóm quốc gia này là khoảng cách thu nhập ngày càng bị thu hẹp. Tầng lớp trung lưu chiếm vị trí quan trọng, phổ biến và có thu nhập khá cao. ở đây hình thành thị trường đa dạng đối với các loại hàng hoá, đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao.

Các chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia có ý nghĩa lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thay đổi mức sống của người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia còn ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế khu vực và thế giới. Bởi vì, ngày nay, các quốc gia đều tham gia vào các khối các khu vực kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Cho nên, các quốc gia trở thành một bộ phận gắn bó với nền kinh tế quốc tế. Chiến lược phát triển kinh tế quốc gia có khả năng tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia trong tương quan khu vực và toàn cầu.

Khi khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực châu á nổ ra vào năm 1997, kinh tế của các quốc gia trong khu vực đều bị ảnh hưởng, tốc độ tăng trưởng âm. Người tiêu dùng trên thị trường Nhật Bản, tăng cường tiết kiệm, thắt chặt chi tiêu gây nên tác động đến nhiều doanh nghiệp Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản đã phải đưa ra chính sách phát tem tiêu dùng cho người dân Nhật Bản để gia tăng tiêu thụ hàng hoá trên thị trường nội địa. Số tiền này được cắt từ ngân sách nhà nước Nhật.

Môi trường kinh tế cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng. Tổng sức mua của thị trường phụ thuộc vào các nhân tố như thu nhập hiện tại, giá cả hàng hoá dịch vụ, các khoản tiết kiệm và tín dụng…. Cơ cấu chi tiêu còn chịu tác động của các yếu tố về điều kiện, giai đoạn phát triển kinh tế, chu kỳ kinh doanh.

Thu nhập bình quân đầu người có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt là trong giai đoạn ngày nay khi nền kinh tế của mỗi quốc gia gắn chặt với nền kinh tế thế giới.

Các chuyên gia marketing chú ý đến thu thập và tỷ lệ phân chia thu nhập của người tiêu dùng trên thị trường. Các sự kiện biến động kinh tế, chính trị, xã hội đều có khả năng ảnh hưởng đến thu nhập và tỷ lệ phân chia thu nhập của người tiêu dùng. Ví như đối với người tiêu dùng trên 2 miền Nam và Bắc Việt nam có tỷ lệ phân chia thu nhập hoàn toàn khác nhau. Người tiêu dùng ở miền Bắc có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn so với tỷ lệ tiêu dùng, bởi quan điểm của người tiêu dùng Bắc Việt Nam cần tiết kiệm để đầu tư vào các công việc lớn như nhà cửa, xe cộ và tiện nghi đắt tiền. Quan điểm của người tiêu dùng ở miền Nam Việt Nam chủ yếu chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày: “ăn là nhiều chứ ở là bao nhiêu” nên tỷ lệ lớn trong thu nhập dành cho chi tiêu, tỷ lệ tích luỹ thấp.

Con người ngày này không chỉ đơn giản đòi hỏi ăn no mặc ấm mà chuyển sang ăn ngon mặc đẹp. Họ cần nhiều loại sản phẩm tiêu dùng đa dạng, phong phú, hình thức bao bì hấp dẫn. Việc tiêu dùng hàng hoá mang tính vật chất nhường chỗ cho việc thoả mãn các giá trị tinh thần ngày càng cao hơn.

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế chênh lệch giữa vùng thành thị và nông thôn, cơ cấu thu nhập và chi tiêu giữa khu vực thị trường thành thị và nông thôn ngày càng có khoảng cách và khác biệt lớn.

Có thể điểm qua một số chỉ tiêu của nền kinh tế hàng đầu thế giới, kinh tế Mỹ như sau:
Nước Mỹ, bộ phận cấu thành nền kinh tế Mỹ thời kỳ 1900 bao gồm sản xuất công nghiệp chiếm 37,9%; sản xuất nông nghiệp chiếm 20,6%; dịch vụ chiếm 32,90% và thu của Chính phủ chiếm 8,6%. Tỷ lệ lạm phát thời kỳ này 0%, tỷ lệ thất nghiệp 5%; sở hữu nôi địa 46,7% và thuế thu nhập cao 0%.

Thập kỷ 90 (1990), cấu thành kinh tế Mỹ bao gồm sản xuất công nghiệp 17,4%; sản xuất nông nghiệp 1,7%; dịch vụ 67,9% và thu chính phủ 13%. tỷ lệ lạm phát 1,5%; tỷ lệ thất nghiệp 4,6%; sở hữu nội địa 66% và thuế thu nhập cao 39,6%.