Môi trường pháp lí trong thương mại quốc tế

Sở thích (thị hiếu ) người tiêu dùng Mỹ đã kích thích cả việc nhập khẩu cả những sản phẩm làm từ thú hoang dã hợp pháp lẫn bất hợp pháp . Sản phẩm nhập khẩu bất hợp pháp là những sản phẩm được chế biến từ những loài có nguy cơ tuyệt chủng hoặc những sản phẩm đưa vào với những chứng từ không chính xác về xuất xứ . Vào giữa những năm 1980 , sản phẩm động vật hoang dã bất hợp pháp chiếm khoảng 30% sản phẩm động vật hoang dã nhập khẩu . Những điều luật của liên bang cấm tất cả ngà voi từ ASIAN và cho phép các quan chức bắt tay cầm ô làm  bằng chân voi , cốc bia làm bằng da voi , túi xách làm từ da cá sấu và da trăn nhập khẩu . Nhà bán lẻ nổi tiếng Scotne , vừa bị phạt vì vi phạm luật nhập khẩu với khoản tiền phạt lớn và bị tịch thu hàng . Joan và David Halpern cũng bị phạt 15.000 đôla và buộc phải bỏ 1.300 đôi giày trị giá 106.000 đôla bởi vì những đôi giày này làm từ những loài trăn được bảo vệ.

Các nhà nhập khẩu phải đối mặt với tình trạng khó khăn là họ không có khả năng xác định được đâu là sản phẩm hợp pháp và đâu là sản phẩm bất hợp pháp . Luật của quốc tế , của liên bang và luật của nhà nước rất phức tạp và mâu thuẫn nhau . Thương nhân Mỹ thậm chí chịu trách nhiệm về việc khi người cung ứng hàng cho họ phạm tội cung cấp chứng từ sai về việc cố gắng làm giả việc giết bất hợp pháp những động vật có nguy cơ tuyệt chủng . Ví dụ công ty chế biến Italia bán cho Halpern giày làm bằng da trăn nhưng lại ghi mác là làm từ da rắn . Để tránh hình thức phạm pháp này , Halpern giờ đây thử chất lượng của hàng mà công ty nhập khẩu và loại bỏ những hàng nhập khẩu nghi ngờ .

Việc xuất khẩu , nhập khẩu sản phẩm làm từ động vật hoang dã đã cung cấp cho ta một ví vụ về sự phức tạp của môi trường luật pháp . Giống như hầu hết những nguyên tắc , nguyên tắc về động vật hoang dã cũng đôi khi khó hiểu . Ví vụ Mỹ cho nhập khẩu ngà voi của châu Phi trừ trường hợp là thú bắt trộm . Trong một số trường hợp khac , khong ai chấp nhận người phạm pháp cho dù động vật đó có bị bắt trộm hay không . Thực tế tốc độ gia tăng nhanh của việc trình báo giấy tờ giả mạo đã làm cho người mua không hy vọng rằng nhà sản xuất sẽ điều chỉnh lại -điều đó khác nào để cáo đứng canh chuồng gà con . Từ khi những nguyên tắc không cho phép người mua biện hộ về sự kém hiểu biết của mình , thì người mua phải tự mình cố gắng kiểm soát được tình huống . Họ phải chấp nhận tuân theo những yêu cầu luật pháp cho mỗi mặt hàng mà họ đang bán .

Mục đích của chương này là thảo luận về ảnh hưởng của môi trường pháp luật đến những quyết định kinh doanh và giải thích vấn đề pháp luật và chính trị liên quan đến nhau như thế nào . Chương này nghiên cứu luật và giải thích của các quốc gia đang thay đổi như thế nào . tác động đến xuất khẩu , nhập khẩu và Marketing hỗn hợp . Trọng tâm và luật của Mỹ , luật hạn chế xuất khẩu của Mỹ . Ngoài ra , đề cập đến những hệ thống pháp luật quan trọng , bài viết còn bàn luận về thị trường hàng hoá ảm đạm , sáng chế và vi phạm bản quyền , việc làm giả và ăn hối lộ .Phần này cũng bàn về các kiểu pháp luật của những tổ chức kinh tế .

Hệ thống pháp luật

Để hiểu và đánh giá những triết lý pháp luật khác nhau ở các quốc gia , thì thật cần thiết phân biệt hai hệ thống luật bất thành văn và luật thành văn.

Có 25 quốc gia sử dụng luật bất thành văn và luật của Anh . Hệ thống luật bất thành văn là hệ thống luật dựa phần lớn vào tiền lệ và tập quán . Những phán quyết của toà án không dựa vào luật mà dựa vào những quyết định của toà án trước kia và những giải thích của luật trước đó . Kết quả là , luật của những quốc gia này xu hướng truyền thống . Những quốc gia sử dụng hệ thống luật này bao gồm Mỹ , Anh, Canada , ấn Độ và thuộc địa khác của Anh .

Những quốc gia theo hệ thống luật thành văn , còn được biết đến như code hay luật civil bao gồm các nước ở châu Âu và Nhật Bản . Hầu hết các nước , khoảng 70 nước sử dụng hệ thống luật thành văn . Như tên của nó đã thể hiện , nguyên tắc chính của luật được thể hiện ở những đạo luật được lập ra . Mọi trường hợp đều ghi ra để chỉ rằng cái gì hợp pháp và cái  gì là không hợp pháp . Có cách giải thích rất nghiêm túc và văn vẻ của hệ thống luật này .

Thực tế , hai hệ thống luật này có sự giống nhau và có khác nhau khó phân chia rõ ràng được . Mặc dù toà án Mỹ dựa phần lớn vào quyết định và sự giải thích của toà án trước , nhưng họ vẫn cần đến những luật mà nằm trong luật thành văn hoặc đạo luật . Đối với những quốc gia sử dụng luật thành văn , một số luật được phát triển bởi toà án và không bao giờ được viết ra . Chính vì thế , sự khác nhau lớn nhất giữa hai hệ thống luật này là sự tự do của toà án trong việc giải thích luật ở quốc gia sử dụng luật bất thành văn , khả năng của toà án giải thích luật bằng cách cá nhân để đưa cho toà án quyền làm thích hợp luật đó phù hợp với tình huống . Ngược lại , toà án ở quốc gia sử dụng luật civil có vai trò nhỏ bé trong việc sử dụng ý kiến cá nhân để thành lập hoặc giải thích luật , bởi vì toà án phải nhất nhất tuân theo luật đã được in sẵn .

Các dạng khác nhau của môi trường luật pháp

Cũng giống như môi trường chính trị đã thảo luận ở chương trước , thì có nhiều dạng khác nhau của môi trường luật pháp : môi trường trong nước , nước ngoài , và quốc tế . Điều tệ nhất là luật pháp có thể cản trở việc Marketing một sản phẩm . Đối với hầu hết các doanh nhân , luật như là một cản trở . Ví dụ chính sách câu lạc bộ biển Địa Trung Hải về việc thay đổi nhân công nươc ngoài trong 6 tháng ,nhưng đã bị hạn chế bởi luật về di cư của Mỹ .

Môi trường luật pháp trong nước

Trong môi trường nội địa , một doanh nhân phải tuân theo luật pháp quốc gia . Luật pháp có thể ảnh hưởng đến việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hoá . ở Mỹ những sản phẩm phạm pháp cà chất gây nghiện không được phép nhập khẩu .Nhưng một số sản phẩm tiêu dùng có thể hiện không hợp pháp thì cũng bị cấm nhập khẩu . Hơn nữa ,ngoài sản phẩm từ động vật hoang dã thì có một số sản phẩm khác cũng bị cấm như hầu hết các sản phẩm nông nghiệp , động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng như khỉ , vượn , vật phẩm nguy hại và thuốc mê , chất gây nghiện ,chất độc hại , …
Môi trường luật pháp ngoài nước

Môi trường luật pháp quốc tế

Luật pháp của chính phủ được lập ra để phục vụ cacds lợi ích của xã hội . Một bên là để bảo vệ cho các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh còn một bên là để bảo vệ người tiêu dùng.

Các thành viên NB, AuStralia và New fealard. Sự kết hợp chặt chẽ với những chính sách đã được NaTô tìm thấy trong vài năm qua đã tạo thành những quy định khắt khe về thương mại đối với những quốc gia có liên quan đến nhân quyền. Các khoản vay bị giữ lại đối với Nam phi, Urugoay, Elsalvado và Chi lê.

Các nhà phê bình buộc tội rằng Chính phủ Mỹ đã độc doán trong việc chấp nhận đơn của các quốc gia. Trong khi các nhà phê bình về nhân quyền ở Cu ba, Sec và Liên Xô cũ lạm dụng quyền, Chính phủ Mỹ lại lờ đi hoặc tha thứ cho những hành vi tương tự ở Haili, Honduras, Kenya, Nam phi và Thổ Nhĩ Kỳ. Theo hai tổ chức cá nhân (xem xét  các vấn đề nhân quyền và Uỷ ban  các nhà làm luật về nhân quyền), chính quyền Reegan áp dụng những chỉ tiêu về nhân quyền đầy mâu thuẫn giữa các nước Liên Minh và các nước thù địch.