Môi trường tự nhiên hay môi trường địa lý khí hậu

Mỗi quốc gia có vị trí địa lý khác nhau trên bản đồ địa lý thế giới. Vị trí tự nhiên của một quốc gia ảnh hưởng đến những lợi thế tuyệt đối và tương đối của các quốc gia trong phát triển kinh tế. Ví như, Việt Nam có đường bờ biển dài, khả năng phát triển vận tải biển quốc tế sẽ đem lại cho Việt Nam có

lợi thế hơn Lào và Cam-pu-chia trong tham gia thương mại quốc tế. Việt Nam có thể phát triển vùng cảng biển trở thành các trạm trung chuyển hàng hoá từ các quốc gia khác vào khu vực 3 nước Lào, Cam-pu-chia, Việt Nam và ngược lại.

Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến nguồn lực đầu vào của nhiều ngành công nghiệp. Điều kiện tự nhiên của các quốc gia cũng quyết định nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia. Môi trường tự nhiên tạo nên lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối giữa quốc gia này với quốc gia kia.

Việt nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đây là lợi thế tuyệt đối của Việt Nam. Irăc có nguồn dầu mỏ dồi dào nhờ đó có khả năng phát triển kinh tế thông qua xuất khẩu dầu mỏ. Singapore bốn phía là biển đã trở thành quốc gia có hệ thống kho hàng và đội tàu vận tải quốc tế mạnh nhất thế giới.

Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên khí hậu ảnh hưởng đến cơ cấu hàng hoá tiêu dùng trên mỗi khu vực thị trường. Khí hậu 4 mùa, có cấu hàng hoá mang tính mùa vụ tăng cao hơn so với khu vực có khí hậu phân chia 2 mùa. Mặt khác, vòng đời các sản phẩm mùa vụ lại ngắn hơn.

Sự đa dạng về môi trường tự nhiên giữa các quốc gia cũng ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của quốc gia đó.

Sự khắc nghiệt của khí hậu cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng và các chức năng của sản phẩm. Sản phẩm hoạt động tốt ở khí hậu ôn đới có thể mất giá trị nhanh chóng hoặc đòi hỏi phải có chế độ bảo dưỡng khác biệt khi hoạt động ở vùng nhiệt đới. Thậm chí, thị trường ngay trên một quốc gia đơn lẻ khí hậu cũng rất đa dạng, đòi hỏi sự điều chỉnh lớn.

Những rào cản môi trường tự nhiên cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động marketing, thông tin liên lạc và phân phối sản phẩm. Vì thuận tiện trong hoạt động phân phối, các thành phố bên bờ biển, các thành phố nằm bên cạnh dòng sông tàu thuyền có thể đi lại được đều có khả năng trở thành các trung tâm mua bán hơn là các thành phố không có lợi thế địa lý này. Tuy nhiên, toàn cầu hoá hiện nay sẽ lôi cuốn tất cả khu vực vào trong guồng máy của nó và vấn đề phát triển giao thông, cơ sở hạ tầng trở thành đòi hỏi tất yếu của tất cả các khu vực, các quốc gia lẫn các thành phố.

Ngày nay, điều kiện tự nhiên là một vấn đề chung của toàn thế giới. Các nguồn nguyên nhiên vật liệu không có khả năng tái sinh như dầu mỏ, than đá, các loại khoáng sản khác đang ngày càng cạn kiệt. Ngay bản thân không khí và nguồn nước sạch là nguồn tài nguyên vô tận cũng dần cạn kiệt. Một phần ba thế giới hiện nay bị thiếu hụt nguồn nước sạch trầm trọng. Việc sử dụng quá nhiều hoá chất gây tổn hại cho tầng ôzôn, phá huỷ sự cân bằng của bầu khí quyển, đe doạ đến sự tồn tại của loài người trong tương lai.

Bên cạnh đó, chính sách môi trường nghèo nàn, các thảm hoạ thiên nhiên, dân số tăng, nạn chặt phá rừng bừa bãi.. làm gia tăng mức độ tác động đến điều kiện tự nhiên dẫn đến thiếu ăn, bệnh tật và xa hơn nữa là sự suy tàn về kinh tế. Những nước chịu thảm hoạ này nhiều nhất lại là những nước nằm trong nhóm nước nghèo nhất thế giới. Nhiều nước không có vốn cũng không có khả năng về công nghệ nhằm tối thiểu hoá hậu quả của môi trường.

Với các nước công nghiệp phát triển, những nỗ lực tăng trưởng kinh tế lại dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường theo góc độ khác. Việc quản lý nguồn khí thải, nước thải độc hãi kém, sự gia tăng ô nhiễm công nghiệp là những vấn đề môi trường mà các nước phát triển phải đương đầu.

Sự cạn kiệt nguồn nguyên nhiên vật liệu không có khả năng tái sinh dẫn đến sự gia tăng giá các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp. Nền kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế hàng đầu thế giới ngày càng phụ thuộc vào các nguồn cung ứng nguyên nhiên vật liệu như dầu mỏ. Các nguồn nguyên nhiên vật liệu có khả năng tái sinh vẫn chưa được tìm ra hoặc khả năng cung cấp còn hạn chế. Trong khi đó, việc tăng giá sản phẩm đầu ra không phải có được sự chấp nhận dễ dàng của người tiêu dùng.

Vấn đề chống ô nhiễm môi trường đang trở lên cấp thiết đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Hoạt động công nghiệp phát triển luôn đi liền với sự gia tăng ô nhiễm môi trường. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường là giảm thiểu các chất thải, khí thải của các ngành công nghiệp ra môi trường sống, giảm thiểu các chất ô nhiễm, chất độc hại trong đất, nguồn nước và thực phẩm cũng như giảm thiểu rác thải sau quá trình sử dụng như bao bì, chai lọ, các sản phẩm bằng nhựa… không thể phân huỷ bằng phương pháp hoá sinh.

Ví dụ như EU, vấn đề quản lý môi trường rất nghiêm ngặt bằng hệ thống các qui định pháp lý. Các quy định về môi trường của EU đối với hàng hoá chính là các quy định về hàng hoá môi trường nằm trong hệ thống “Luật sản phẩm Môi trường của Liên minh Châu Âu” (European Union Environment Product Legislation). EU ban hành Hệ thống Luật Sản phẩm Môi trường nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường sinh thái (hình 3).

Qui định về môi trường của EU rất nghiêm ngặt. Các quy định đối với hàng nông sản, thuỷ sản được chia thành 2 nhóm dựa trên mức độ ảnh hưởng tới môi trường: (1) các quy định liên quan trực tiếp đến môi trường, bao gồm Quy định về bao bì và phế thải bao bì; Quy định về nhãn hiệu cho thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ; (2) các quy định liên quan gián tiếp đến môi trường và liên quan trực tiếp đến vệ sinh an toàn thực phẩm, bao gồm Quy định về mức thuốc trừ sâu tối đa có trong sản phẩm nông nghiệp; Quy định về kiểm tra thú y đối với thịt gia súc gia cầm và thuỷ sản; Quy định về chất phụ gia trong thực phẩm. Khi xuất khẩu hàng hoá sang EU, ngoài việc xuất trình các chứng chỉ về vệ sinh dịch tễ, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật là yêu cầu bắt buộc. Các doanh nghiệp Việt Nam còn phải tuân thủ các quy định về môi trường của EU Nguyễn Thanh Bình (2005), Thị trường EU: Các qui định pháp lý liên quan đến chính sách sản phẩm trong marketing xuất khẩu, NXB Lao động xã hội, .

Nỗi lo lắng của toàn xã hội một mặt tạo áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú ý hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường, đầu tư nhiều hơn vào hoạt động xử lý khí thải, phế thải trong và sau quá trình sản xuất. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng và phát triển công nghệ không có chất thải và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Với những suy thoái của môi trường, vấn đề trách nhiệm xã hội và quản lý môi trường được đặt lên hàng đầu. Thập niên 90 được coi là thập niên của môi trường. Nhiều quan điểm còn cho rằng đây là vấn đề toàn cầu đe doạ chung sự tồn tại của loài người chứ không còn là vẫn đề riêng của bất kỳ quốc gia nào. Các chương trình môi trường, các làn sóng tẩy chay hàng hoá, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường dâng cao ở các quốc gia gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời các rào cản kỹ thuật được xây dựng để ngăn chặn hàng hoá của các doanh nghiệp, các quốc gia không đảm bảo vấn đề môi trường. Để vượt qua khó khăn này, doanh nghiệp ở các nước phát triển tìm cách xây dựng nhà máy sản xuất ở những quốc gia có các qui định về môi trường thông thoáng hơn các qui định ở nước họ. Đa phần các quốc gia này là các nước đang và kém phát triển.

Với xu hướng này, môi trường quốc gia các nước đang và kém phát triển ngày càng ô nhiễm nhanh hơn, hàng hoá có năng lực cạnh tranh ngày càng kém hơn trên thị trường quốc tế. Kết quả một cuộc kiểm tra các sông, hồ và khu bảo tồn của Trung Quốc cho thấy 21% bị ô nhiễm do chất độc hại, 16% sông suối bị ô nhiễm nghiêm trọng do phân Philip R. Cateora, International marketing, tr. 86. ở Đông Âu cũng như Việt Nam, hầu hết các nhà máy đã lỗi thời, sử dụng nguyên liệu rẻ tiền gây ô nhiễm nghiêm trọng nhưng chỉ có một số luật lệ đơn giản kiểm soát môi trường. Theo đánh giá của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường Việt Nam, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay lạc hậu so với thế giới từ 30 đến 50 năm. Công nghệ sản xuất, phương pháp chế biến của Việt Nam còn lạc hậu, đa phần là công cụ thô sơ dẫn đến khả năng gây ô nhiễm môi trường cao. trong chương trình đánh giá môi trường vùng sản xuất dọc sông Nhuệ, tỉnh Hà Tây thì các doanh nghiệp và làng nghề của chúng ta mới chỉ chú ý đến chất lượng chứ chưa chú ý đến yếu tố về môi trường VTV1, Thời sự, 5/12/2003.Trong khi đó Việt Nam mới cho ra đời Luật môi trường với những qui định hết sức đơn giản.