Một số các chính sách tài chính cơ bản có tác động tới hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

1. Chính sách tín dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 
Nguồn vốn ngân hàng có vai trò gần như không thể thay thế đối với sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế, và thành công lớn nhất của chính sách tiền tệ chính là ở chỗ duy trì được nguồn cung ứng tín dụng ổn định với lãi suất phù hợp.
Chính sách định hướng tín dụng của ngân hàng Nhà nước, với các mức lãi suất khác nhau được áp dụng một cách chọn lọc, sẽ buộc các ngân hàng thương mại và cả các doanh nghiệp hướng các hoạt động tín dụng, sản xuất kinh doanh của mình theo định hướng đó. Đó là phương thức điều chỉnh vừa phù hợp với cơ chế thị trường, vừa phù hợp với mục tiêu lợi ích chung của toàn nền kinh tế.
2. Chính sách thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước có  tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu qủa các nguồn lực của đất nước trong việc điều chỉnh cung – cầu và cơ cấu kinh tế.
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân và pháp nhân.
 3. Chính sách huy động sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường vốn.   
Thị trường vốn Việt Nam, trong đó thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo; từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính, góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách nền kinh tế; đảm bảo tính công khai, minh bạch, duy trì trật tự, an toàn, hiệu quả, tăng cường quản lý, giám sát thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư; từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế.
4. Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.  
Ngày 22 tháng 9 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 108/2006/NÐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư,Chính phủ quy định chi tiết Luật khuyến khích đầu tư trong nước, các doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ và ưu đãi khi đầu tư trong nước : Thời hạn và giá thuê đất; Chính sách về thuế;  Hỗ trợ công trình hạ tầng kỹ thuật; Lao động; Chính sách về vốn…..
Các doanh nghiệp đầu tư trong nước sẽ được vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi từ các quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước như Quỹ hỗ trợ đầu tư, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ và các Quỹ bảo lãnh tín dụng khác.
 5. Chính sách tài chính đối với doanh nghiệp.   
–  Quản lý vốn và tài sản .
–  Quản lý doanh thu và chi phí .
–  Phân phối thu nhập .