Một số chính sách hạn chế sự phân hoá giàu nghèo ở Nhật Bản

* Tập trung cao độ cho phát triển kinh tế- cơ sở chủ yếu để giảm phân hóa giàu nghèo:

Với quan điểm ” Phát triển kinh tế là cơ sở để xoá đói giảm nghèo”, từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã liên tục đề ra các biện pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế như: chính sách chống độc quyền, thành lập Tổng cục các xí nghiệp vừa và nhỏ …Đồng thời tiến hành cải cách ruộng đất với mục tiêu xoá bỏ trở ngại về kinh tế, nhằm khôi phục và củng cố các thiên hướng dân chủ, xoá bỏ sự kìm hãm kinh tế với đày đọa nhân dân. Với biện pháp cải cách kiên quyết và khéo léo, mục tiêu đưa “ruộng đất cho người cày” được thực hiện tốt. Đến tháng 8-1950 chỉ 1% nông dân lĩnh canh thu tô và tỷ lệ nông dân không có ruộng chỉ còn có 4% năm 1955. Sau khi kết thúc thời kì khôi phục kinh tế, Nhật Bản tập trung cho mục tiêu ” Tăng gấp đôi thu nhập ” với mức tăng trưởng bình quân đạt 7,2%/ năm. Nhật Bản đã thực hiện tốt mục tiêu này, mới có 8 năm của mục tiêu nền kinh tế Nhật Bản đã tăng trưởng 11% năm. Những năm 80 và năm 90, Nhật Bản sử dụng nhiều chính sách để phát triển kinh tế đi đôi với giảm phân hoá giàu nghèo, trong đó có cả chính sách thắt lưng, buộc bụng, tài chính, phúc lợi……..

Nhờ tập trung cao độ cho tăng trưởng kinh tếmà Nhật Bản đã tạo dựng được cơ sở vật chất cần thiết để đảm bảo cuộc sống người dân, góp phần giảm bớt số nghèo, cho phép xã hội có điều kiện để thực hiện giảm phân hoá bằng các biện pháp cụ thể như phúc lợi xã hội , thuế khoá ….chính vì vậy năm 1946 thu nhập bình quân đầu người của Nhật bản mới là 170 USD đến năm 1995 đã tăng lên 315 USD.

* Chính sách thuế

– Chính sách thuế thu nhập cá nhân từ việc làm:

Cũng giống như đa số các nước khác, với mục tiêu điều tiết thu nhập, giảm chênh lệch giàu nghéo thông qua thuế, Nhật Bản sủ dụng thuế luỹ tiến đối với thu nhập cá nhân. Tức là thu nhập càng cao thì mức thuế càng cao. Tuy nhiên, so với một số nước phát triển ở Tây Âu và Mỹ thì mức điều tiết của Nhật Bản còn chưa mạnh.

Mặc dù Nhật Bản đã sớm áp dụng chính sách thuế thu nhập để tạo nguồn thu và điều tiết phân phối, song xung quanh vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau. Đặc biệt sự chậm chễ cải cách thuế so với thực tế đang thay đổi và còn nhiều điều bất hợp lý khi tính thúe thu nhập.
– Thuế thu nhập từ tài sản:
Ngoài khoản thu nhập từ việc làm, người dân còn rất nhiều khoản thu nhập khác. Vì vậy để điều tiết và giảm bớt phân oá giàu nghèo, Nhật Bản đã phải đánh thuế vào thu nhập từ tài sản cá nhân.

* Chính sách về phúc lợi xã hội

– Bảo hiểm xã hội và chăm sóc sức khoẻ:

Từ năm 1961, Nhật Bản đã xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội công cộng toàn diện, kết hợp với trợ cấp hưu trí lẫn bảo hiểm trên phạm vi cả nước. Hệ thống này được mở rộngvào những năm 70 khi nền kinh tế phát triển nhanh chón, nhu cầu mới về bảo hiểm tăng lên. Nhà nước không chỉ tăng chi phí bảo hiểmmà còn mở rộng hưởng bảo hiểm cũng như các lĩnh vực bảo hiểm: Tăng bảo hiểm y tế, trợ cấp hưu trí, trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp. Trong năm tài chính 1989 đạt 44.600 tỷ yên. Khoản chi phí này lên tới 362.200 yên/người, trợ cấp hưu chí chiếm tới 22.700 tỷ yên (chiếm 50,9%), chăm sóc sức khỏe 17.350 tỷ yên (38,9%) và các khoản khác 4.550 tỷ yên (chiếm 10,2%).

– Chính sách hưu chí và trợ cấp:

Theo quy định chung, thông thường khi người lao động ở Nhật Bản dù ở các xí nghiệp tư nhân hay nhà nướckhi về hưu đều nhận được trợ cấp hưu trí. Số lượng trợ cấp phụ thuộc vào số năm làm việc của người nghỉ hưu, nơi bảo hiểm và quỹ bảo hiểm người đó tham gia. Thực tế, số lượng chi phí cho chính sách này là rất lớn. Nếu như chi phí cho trợ cấp hưu trí so với thu nhập quốc dân ở mức 7,1% trong năm 1989 thì theo dự báo lên tới16,9% năm 2010. Thông thường trong cơ cẩutợ cấp này hỗ trợ y tế chiếm 55-60%, hỗ trợ sinh hoạt chiếm hơn 30%.

* Chính sách phát triển vùng.

– Chính sách phi tập trung hoá trong việc phát triển vùng:
Chính sách này được chính phủ Nhật Bản sử dụng thể hiện qua 3 giải pháp sau:

+ Khuyến khích các vùng phát huy lợi thế so sánh của mình. Chẳng hạn phát triển thành phố công nghiệp Kita-Kyushu để xây dựng các ngành hoá chất: xây dựng thành phố Toyota gồm Nagaoya, tổ hợp thép Nipon ở gần Iwate, giấy Oji ở Komakomai vùng Hockaido. Đồng thời khuyến khích xây dưng các xí nghiệp đơn lẻ ở các thị trấn, các thành phố nhỏ. Để quá trình phi tập trung hoá kinh tế được thực hiện có hiệu quả nhằm hạn chế sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng. Chính phủ đã ban hành nhiều luật và biện pháp cụ thể: Kế hoạch quốc gia năm 1962 về phát triển công bằng các vùng: Luật bố trí lại công nghiệp được phê chuẩn năm 1972. Nhà nước khuyến khích các công ty tập trung vào vùng nhất định. Để thực hiện phi tập trung, Nhà nước đã có nhiều chế độ về ưu đãi cho vay vốn, giảm lãi suất…..

+ Phi tập trung hoá được thực hiện chính ngay ở các vùng có mức độ tập trung cao. Để thực hiện chủ trương này, các vùng, thành phố chú trọng vào việc mở rộng các thành phố vệ tinh, các vùng ngoại vi…..

+ Xây dựng các khu công nghệ cao, khuyến khích phát triển các ngành ít ô nhiễm. Theo đó, nhiều thành phố mới có nhiều cơ sở sản xuất hiện đại đã được xây dựng.

– Phân cấp quyền hạn, trách nhiệm cho chính quyền địa phương:
Cùng với các vùng chính sách giao nhiều quyền lợi hơn do chính quyền cấp địa phương, cấp vùng giúp họ có sự chủ động hơn trong các hoạt động tạo ra sự bình đẳng trong các tầng lớp dân cư ở địa phương mình, Nhà nước còn có chủ trương điều tiết thuế giữa các vùng, cấp một khoản thuế cho địa phương.

– Hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn:
Để thực hiện chính sách này chính phủ Nhật Bản đã sử dụng hai biện pháp chính là:

+ Duy trì và ổn định sản xuất ở khu vực nông nghiệp.
+ Sử dụng biện pháp bảo hộ của Nhà nước đối với sản phẩm nông nghiệp: Chính sách trợ giá cho sản xuất lương thực ( Nhà nước thu mua thóc gạo với giá cao sau đó bán ra với giá thấp ), dự trữ lương thực…giúp nhà nông an tâm sản xuất và giảm sự phân hoá giữa thành thị và nông thôn.