Một số đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc

Cách đây 30 năm, tháng 12/1978, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3 Khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định chuyển trọng tâm công tác sang xây dựng hiện đại hóa đất nước Trung Hoa. Ở thời điểm đó, giữa các quốc gia thuộc hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa thế giới, Trung Quốc là nước đi đầu trong việc tháo gỡ cơ chế cũ, bứt phá thận trọng nhưng sáng tạo và mạnh bạo nhằm xây dựng một nền kinh tế mới. Ba thập kỷ qua, hai quá trình cải cách và mở cửa hợp nhất trong một chiến lược chung hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đến nay, Trung Quốc đã đạt bước tiến vĩ đại trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội màu sắc Trung Quốc và phục hưng dân tộc Trung Hoa.

1. Thành tựu của Trung Quốc qua những con số

 ♦ Kinh tế:

Từ 1978-2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP Trung Quốc là 9,8%, cao hơn 3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của thế giới trong cùng thời kỳ. GDP của Trung Quốc năm 2007 đạt 3.280 tỷ nhân dân tệ (481 tỷ USD), tương đương 23,7% GDP của Mỹ, 74,9% GDP của Nhật Bản và 99,5% GDP của Đức. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc đạt 2.360 USD. Theo bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB), Trung Quốc từ nước có mức thu nhập thấp được đưa vào danh sách những nước có thu nhập thấp trung bình. Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ đã dự đoán đến năm 2025, Trung Quốc có khả năng vượt Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Thậm chí, nhiều nhà phân tích trong nước còn cho rằng đến năm 2038, Trung Quốc có thể sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.

 ♦ Ngoại thương:

 Năm 1978, tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc với bên ngoài là 20,6 tỷ USD và thâm hụt thương mại là 1,1 tỷ USD. Năm 2007, kim ngạch thương mại đã tăng lên 105 lần, đến 2,17 nghìn tỷ USD, và thâm hụt đã biến thành khoản thặng dư khổng lồ là 262 tỷ USD. Năm 1978, có 9 người tốt nghiệp đại học có chứng chỉ cao học. Năm 2007, con số này đã tăng lên 311.839.

 ♦ Dân số:

Khi cải cách bắt đầu, Trung Quốc có số dân lớn nhất thế giới, 963 triệu người. Hiện dù vẫn là một nước đông dân nhất thế giới (1,32 tỷ năm 2007), nhưng có khả năng trong vài thập kỷ nữa Ấn Độ sẽ qua mặt. Chính sách một con đã giúp nước này kiểm soát được tỷ lệ tăng dân số ở mức 0,5% hiện nay từ 1,2% năm 1978.

  ♦ Thu nhập:

Người dân ở cả thành thị và nông thôn đều được hưởng lợi từ cải cách. Năm 1978, thu nhập trung bình hàng năm của mỗi hộ dân thành phố là 343,4 Nhân dân tệ (khoảng 45 USD), đến năm 2007 đã gấp 40 lần – lên 13.786 nhân dân tệ (khoảng 1.810 USD). Đối với hộ nông thôn, mức tăng là 31 lần, từ 133,6 Nhân dân tệ lên 4.140 Nhân dân tệ.

 Tuổi thọ:

Năm 1981, tuổi thọ trung bình của nữ giới Trung Quốc là 69,3 và đến năm 2000 là 73,3. Với nam giới, con số này là 66,3 trong năm 1981 và 69,6 năm 2000. 

 ♦ Tăng khối lượng xuất khẩu

Năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu Trung Quốc đạt 2.170 tỷ USD, tăng 107 lần so với mức 20,6 tỷ USD của năm 1978. Từ vị trí 32 trong buôn bán trên thế giới kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách cải cách mở cửa, đến năm 2004, Trung Quốc đã vươn lên đứng thứ 3 thế giới. Trong giai đoạn từ 1978-1993, Trung Quốc luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, kể từ năm 1994, Trung Quốc bắt đầu có thặng dư trong ngoại thương với mức tăng thặng dư nhanh giúp Trung Quốc trở thành quốc gia có lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trước năm 1992, Trung Quốc hầu như phải mượn tiền của nước ngoài, đặc biệt là thông qua các khoản vay. Năm 1992, lần đầu tiên lượng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc vượt số tiền vay nước ngoài. Kể từ đó, FDI trở thành kênh quan trọng nhất để Trung Quốc thu hút tư bản nước ngoài.

Năm 1983, FDI vào Trung Quốc chỉ đạt 916 triệu USD nhưng đến năm 2007, con số này đã đạt 74,8 tỷ USD, tăng 81 lần. Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc đã thu hút được trên 770 tỷ USD từ FDI với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 20,1%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP. Kể từ năm 1993, Trung Quốc trở thành quốc gia hấp dẫn FDI nhất trong số các quốc gia đang phát triển. Năm 2001, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từng bước mở cửa thị trường tài chính của mình và hoàn hiện các quy định, văn bản luật pháp có liên quan.

Thay đổi thành phần kinh tế nhà nước

Số liệu của NBS cho thấy, năm 1978, xí nghiệp quốc doanh chiếm 77,6% tổng sản lượng công nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, đến năm 2007, tỷ lệ này chỉ còn chiếm 29,5%. Mặc dù tỷ lệ giảm, nhưng kinh tế quốc doanh vẫn là yếu tố quan trọng trong kinh tế Trung Quốc.. Trước khi cải cách mở cửa, Trung Quốc phải gánh chịu sự thiếu hụt nghiêm trọng về hàng tiêu dùng và dịch vụ. Người dân chỉ có thể mua được lương thực bằng tem phiếu do chính phủ cấp. Sau năm 1978, khả năng cung cấp hàng tiêu dùng của Trung Quốc tăng nhanh và có thể đáp ứng nhu cầu của người dân.

Năm 2007, sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn, tăng 64,6% so với sản lượng lương thực của năm 1978. Giá trị gia tăng công nghiệp năm 2007 vượt mức 10.000 tỷ nhân dân tệ (1.470 tỷ USD), tăng 23 lần so với năm 1978. Năm 2007, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng sản phẩm nông nghiệp như ngũ cốc, thịt và bông. Các sản phẩm công nghiệp như thép, than đá, xi măng và phân hóa học của Trung Quốc cũng đạt sản lượng hàng đầu thế giớiBottom of Form

Cường quốc vũ trụ sau Nga và Mỹ 

Phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu 7 ngày 28/9/2008 và nhà du hành Trác Chí Cương, tay cầm lá cờ Trung Quốc, bước ra ngoài không gian trong 20 phút. Sự kiện này đã đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ 3 trên thế giới thực hiện thành công cuộc đi bộ ngoài không gian

Quan hệ đối ngoại:

Trung Quốc chú trọng đa phương hóa quan hệ chính trị, kinh tế đối ngoại, với 190 quốc gia và nền kinh tế đầu tư buôn bán tại Đại lục. 480 trong số 500 công ty xuyên quốc gia mạnh nhất thế giới hoạt động ở nước này.

2. MỘT SỐ TỒN TẠI LỚN Ở TRUNG QUỐC

Sau 30 năm tiến hành cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất to lớn về mọi mặt, không ai có thể phủ nhận. Tuy vậy trong cuộc phát triển có thể nói là nhanh như vũ bão chưa từng có ấy, Trung quốc hiện đang đứng trước nhiều vấn đề, nhiều tồn tại lớn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà  nếu xử lý không tốt, hoặc khi khí hậu, tình hình quốc tế có nhưng diễn biến đột xuất, có thể phát sinh những chuyện khó lường.

 Những tồn tại theo Báo cáo chính trị tại Đại hội XVII ĐCSTQ (15/10/2007)

 -Trả giá quá lớn đối với tài nguyên, môi trường trong tăng trưởng kinh tế,

-Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, giữa kinh tế và xã hội;(nông thôn phát triển tụt hậu)

- Phát triển ổn định nông nghiệp và duy trì tăng thu nhập cho nông dân ngày càng khó khăn hơn

- Việc làm, bảo đảm xã hội, giáo dục y tế, nhà ở, tư pháp, trị an xã hội v.v.. tồn tại khá nhiều vấn đề

 -Xa xỉ, lãng phí ,tiêu cực tham nhũng vẫn khá nghiêm trọng

-Xu thế mở rộng khoảng cách phân phối thu nhập(nhất là giữa thành thị và nông thôn) về cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được,

-Dân số nghèo ở thành thị và nông thôn, ngưòi thu nhập thấp vẫn còn một sô lượng tương đối lớn.

-Khó khăn trong qui hoạch tổng thể lợi ích các bên,

-Cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, sức ép về kinh tế, khoa học công nghệ của các nước phát triển vẫn tồn tại lâu dài.

Cụ thể là:

♦ Vấn đề tài nguyên

Để  đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, năm 2007 Trung Quốc khai thác 2.536 triệu tấn than (tăng 6,9% so với năm trước), 187 triệu tấn dầu thô (tăng 1,1%-nt), sản xuất 23,9 triệu tấn sợi hoá học (tăng 10,3% -nt) 568,94 triệu tấn thép (tăng 21,3%-nt),1360 triệu tấn xi măng (tăng 9,9%-nt), 57,87 triệu tấn phân hoá học (tăng 8,3%-nt) hơn 84 triệu TV mầu (tăng 0,7%-nt) hơn 44 triệu tủ lạnh (tăng 24,5%-nt) hơn 80 triệu điều hoà không khí (tăng 17%-nt), hơn 8,8 triệu ôtô các loại (tăng 22,1%-nt)  v.v.., mỗi năm Trung Quốc cần một lượng nguyên vật liệu khổng lồ. Mặc dù trong nước còn có dự trữ (trữ lượng) nhưng một số năng lượng, nguyên vật liệu thiết yếu đã có dấu hiệu cạn kiệt.

-Từ năm 1993, Trung Quốc đã từ nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành nuớc nhập khẩu dầu mỏ với số lượng ngày càng lớn. Năm 2004 nhập khẩu 120 triệu tấn, năm 2005 nhập khẩu 136 triệu tấn (trên tổng lượng tiêu thụ là 317 triệu tấn), năm 2007 nhập gần 200 triệu tấn (trong khi dự kiến trước đó là đến năm 2010 mới phải nhập 160 triệu tấn) lượng nhập khẩu dầu đã nhiều hơn lượng sản xuất trong nước và tốn một lượng ngoại tệ là 96,2 tỷ USD. Lượng tiêu dùng dầu mỏ của Trung Quốc đã đứng thứ ba trên thế giới (sau Mỹ, Nhật) Khi một nước mà một năm phải nhập khẩu trên 100 triệu tấn dầu là có nguy cơ về an ninh quốc gia, nếu thế giới hoặc khu vực nhập khẩu chính có sự kiện đột biến. Hơn nữa cần chú ý là 50% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc  đến từ Trung Đông, 25% từ châu Phi, 15% từ Đông Nam Á, 80% lượng dầu nhập khẩu đều phải qua eo biển Malacca (dễ bị người ta “phong toả” khi có chuyện, trong khi của Mỹ lượng dầu nhập khẩu có tới 3/4 là từ Canada, Mehico,Venexuela…với Mỹ là an toàn trong vận chuyển hơn nhiều) ngoài ra 90% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải vận chuyển bằng tầu chở dầu nước ngoài, và một tồn tại lớn là đến nay Trung Quốc hầu như chưa có kho chứa dầu dự trữ. Đứng trước mấy vấn đề: tìm cho được và bảo đảm nguồn cung cấp dầu mỏ cũng như bảo đảm đường vận chuyển, Trung Quốc đã chạy vạy khắp nơi tìm nguồn (Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh..) ra sức đầu tư bằng mọi cách, nhiều khi bất chấp áp lực chính trị (vấn đề Dafur ở Sudan, quan hệ với chính quyền quân sự Myanmar v.v..)

-Trung Quốc thiếu nhiều loại kim loại mầu, năm 2007 nhập 1,4 triệu tấn đồng,  8700 tấn Molyden, có tháng phải nhập hơn 3000 tấn thiếc v.v..

-Năm 2007 nhập 1,33 triệu tấn cao xu nhân tạo, 2,46 triệu tấn bông v.v.

♦ Vấn đề ô nhiễm môi trường

Để có hiệu quả nhanh, tốn ít đầu tư, để chiều lòng khách đầu tư nước ngoài và vì nhiều nguyên khác nữa như sự thiếu hiểu biết, sự liều mạng, bất chấp v.v.. Sau 30 năm cải cách mở cửa, tình trạng ô nhiễm của Trung Quốc đã đến độ cực kỳ nguy hiểm. Không phải tự nhiên báo cáo chính trị Đại hội XVII phải đề xuất xây dựng “văn minh sinh thái” và trong 5 “siêu bộ” được thành lập tháng 3 năm 2008 có “Bộ Môi trường”

-Ô nhiễm nước (bao gồm nguồn nước trên các sông, hồ, biển, nguồn nuớc ngầm, nguồn nước dùng cho người…) Số liệu chung nhất là  70% nuớc sông, hồ.. và 90% nguồn nước ngầm của Trung Quốc đã bị ô nhiễm với mức độ khác nhau. Mỗi năm có khoảng 30 tỷ tấn nước ô nhiễm chưa trải qua xử lý đã thải ra sông, hồ, ngoài ra còn có 24 tỷ tấn phế thải công nghiệp.Từ năm 2003, mỗi năm Trung Quốc chí ít có 5 triệu TV, 4 triệu tủ lạnh, 6 triệu máy giặt cần vứt bỏ, đó là nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng không thể coi thường. Các điểm nối mạch trong các máy này bằng thiếc, chì, bạc kẽm, đồng.., khi tận dụng  thưòng gây ra ô nhiễm. Xin nêu một ví dụ cụ thể: thôn Quí Vực, ngoại thành thành phố Sán Đầu tỉnh Quảng Đông là nơi thu hồi các phế liệu điện tử lớn nhất tỉnh từ năm 1995 bằng phương pháp thủ công, hiện nay môi trường đã bị xâm hại nghiêm trọng. Vật chất độc thấm xuống đất, ngấm vào nước bốc lên trời làm môi trường ô nhiễm nặng, đến mức trẻ em mới sinh ở đây thường bị dị hình, phải vận chuyển nước từ ngoài 30 km về dùng, hàm lượng các kim loại độc cao hơn mức tiêu chuẩn hàng trăm tới hàng ngàn lần(theo tạp chí DuZhe, Trung Quốc). Báo cáo công tác của Chính phủ tháng 3 năm 2008 tai Quốc hội cho biết năm 2007 đã giải quyết cho 97,48 triệu cư dân nông thôn gặp khó khăn trong việc cung cấp nước uống và nước uống không an toàn, năm 2008, Chính phủ có kế hoạch giải quyết vấn đề nước uống không an toàn cho 32 triệu nông dân…

-Ô nhiễm không khí. 70% năng lượng của Trung Quốc là than (mỗi năm dùng tới trên 3000 triệu tấn) cộng thêm khói bụi của hàng vạn nhà máy (chưa qua xử lý), của hàng trăm triệu chiếc ôtô, xe có động cơ… đã làm cho Trung Quốc trở thành nước có lượng khí thải CO2 lớn nhất thế giới, gây hiệu ứng nhà kính rất cao. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới mỗi năm Trung Quốc có khoảng 750.000 người chết vì ô nhiễm (chủ yếu là do ô nhiễm không khí) còn số người sau đó hàng mươi, hai mươi năm mới chết vì bị ung thư thì chưa tính được. 60% dân số thành phố chịu mức ô nhiễm không khí cao hơn 5 lần tiêu chuẩn của WHO. (Một nguồn tin nói, mỗi năm Trung Quốc có từ 800.000-1.000.000 trẻ em vừa đẻ ra đã bị dị hình.). Cái giá phải trả cho ô nhiễm rất cao (năm 2003 cái giá phải trả cho ô nhiễm sức khoẻ vào khoảng 6% GDP)

♦ Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn

-Số liệu công khai của Trung Quốc cho biết thu nhập ròng bình quân đầu người của nông dân năm 2007  là 4140 NDT (tăng 9.5% so với năm trước-của năm 2003 là 2622 NDT-tăng 4,3 % so với năm trước), trong khi thu nhập có thể chi phối bình quân đầu người của cư dân thành thị là 13.786 NDT (tăng 12,2% so với năm trước-của năm 2003 là 8472NDT-tăng 9% so với năm trước).

Nhìn vào con số trên, thấy mức chênh lệch không lớn(chỉ hơn 3 lần), nhưng nếu tính tới những điều kiện ăn, ở, đi lại, chữa bệnh, đi học v.v. thì mức chênh lệch giữa thành thị nông thôn đâu chỉ có thế. Theo tiêu chuẩn của Trung Quốc: tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối của một nông dân là thu nhập dưói 785 NDT/năm, thì năm 2007 còn có 14,79 triệu người (giảm 6,69 triệu người so với năm trước); còn nếu theo tiêu chuẩn thu nhập thấp 786-1067NDT/năm thì có 28,41 triệu người. Tuy nhiên báo cáo của Ngân hàng châu Á mùa hè năm 2007 cho biết  có 300 triệu ngưòi Trung Quốc (chủ yếu là nông dân) có thu nhập dưới 1USD/ngày (BBC, tiếng Trung ngày 18-2-2008)

Tỷ lệ người cao tuổi (từ 65 trở lên) nghèo khó ở nông thôn cao. Năm 2003 có khoảng 65,88 triệu người cao tuổi ở nông thôn chiếm 60% tổng số người cao tuổi toàn quốc. Những người cao tuổi này về căn bản không có bảo hiểm xã hội.Theo thống kê của Bộ Lao Động năm 2003 chỉ có 1,98 triệu người được hưởng tiền dưỡng lão (3% tổng số), bình quân là 492 NDT/người/năm mà chủ yếu lại tập trung tại vùng ngoại thành mấy thành phố và tỉnh phát triển như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Giang Tô, Chiết Giang. Hơn 90% người cao tuổi nông thôn Trung Quốc vẫn phải tự nuôi mình hoặc nhờ vả gia đình, khi ốm đau càng thêm khó khăn.

♦ Giữa các vùng miền

Không nói cũng rõ, tại Trung Quốc vùng ven biển (miền đông) phát triển nhất, vùng giữa (miền trung) phát triển chậm hơn và miền tây phát triển chậm nhất. Một vài con số cụ thể:

-Thượng Hải (thành phố ven biển-miền đông) bình quân GDP/người là 65.473 NDT(dứng đầu)

-Hà Nam (tỉnh nội địa miền trung) là 15.056 NDT/người (thứ 16)

-Quí Châu (tỉnh nội địa miền tây) là 6742 NDT/người (thứ 31)

Qua đó có thể thấy GDP bình quân của vùng giầu nhất miền đông gấp gần 10 lần vùng nghèo nhất miền tây và hơn vùng miền trung 4 lần.

♦  Chênh lệch giàu nghèo

Nếu như bẩy, tám năm trước đây một người Trung Quốc có 100 triệu NDT(7,3NDT=1USD) đã được coi là người giầu nhất nước (vì vậy hiện nay Trung Quốc quen dùng từ “trăm triệu phú ông” để chỉ những người giầu) Còn bây giờ (năm 2007) nếu có số tiền trên sợ rằng ngay đến xếp thứ 2000 cũng không nổi. Có nguồn tin cho biết người giầu nhất Trung Quốc năm 2006 có 27 tỷ NDT, nhưng năm 2007 ai có số tiền như vậy chỉ đứng thứ 16 trong số những người giàu nhất nước, bởi vì người giầu nhất năm này đã có 130 tỷ NDT (gần 20 tỷ USD). Có người nói Trung Quốc có 300.000 người có thể mua máy bay riêng, hoặc có 230.000 người có từ 1 triệu USD trở lên (nhưng đó là những tin chưa được xác minh). Một nguồn tin cho biết có tới trên chín phần mười người giầu TQ là con em cán bộ cấp cao trong đó có 29 người có tài sàn tổng cộng là hơn 2000 tỷ NDT.  Những con số này tự nói lên sự chênh lệch giầu nghèo đã tới mức nào.

♦  Phân hoá xã hội

Người ta có sự phân loại không thành văn các tầng lớp trong xã hội TQ sau gần ba mươi năm cải cách như sau: quan chức lãnh đạo, công vụ viên (không kể tầng lớp bị buộc rời khỏi cương vị mà nghe nói vào khoảng 30 triệu người và số nhân viên cấp thấp), thương nhân, xí nghiệp gia, tầng lớp tri thức trong CMVH bị gọi một cách khinh rẻ là “lão chín thối” nay cũng được thăng lên hạng năm, đáng thương nhất vẫn là tầng lớp nông dân, xếp hạng cuối cùng, còn giai cấp công nhân “người anh cả-giai cấp lãnh đạo” thì xếp thứ tám, chỉ đứng trên nông dân. (Báo cáo điều tra của Tổng Công Đoàn Trung Quốc năm 2007 cho biết có tới 26.7% công nhân phổ thông không được tăng lương trong 5 năm qua)

Tình trạng gíá cả gia tăng mạnh và lạm phát có xu hướng phi mã, càng làm cho đời sống  những người thu nhập thêm khó khăn(có người đã nói như đùa: do giá thịt lợn tăng quá cao, một số người đã trở thành người theo đạo Hồi). Mỗi năm TQ có thêm 20 triệu sức lao động mới, nhưng xã hội mới giải quyết được việc làm cho 12 triệu người. Có thể nói chưa bao giờ tình hình xã hội Trung Quốc có nhiều tồn tại như hiện nay, nổi bật là vấn đề việc làm, nhà ở, chữa bệnh và giáo dục; ngoài ra tâm lý bất mãn, bức xúc, chống đối trước những nghịch cảnh, trước những bất công của xã hội hoặc sự quản lý kém hiệu lực của chính quyền, sự tham nhũng của những người nắm quyền đã bắt đầu công khai bộc lộ và có xu thế ngày càng mạnh lên.

♦  Sự chống đối  của một số người Trung Quốc ở trong và ngoài nước

Từ trong nội bộ đảng.Ngoài sự đấu tranh phe phái không bao giờ hết trong đảng ra, trong nội bộ ĐCSTQ đã xuất hiện tầng lớp đảng viên chống lại đường lối cơ bản của đảng, đòi đẩy mạnh cải cách chính trị, đòi xây dựng cái gọi là “chủ nghĩa xã hội dân chủ” như mấy nước Bắc Âu… ( mà một số người nổi lên như: Lý Nhuệ nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức TW, một số đảng viên là nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà văn…như Đỗ Đạo Chính, Tạ Thao, Tân Tử Lăng..) trào lưu này bắt nguồn từ Hồ Diệu Bang và đặc biệt là Triệu Tử Dương, những người lãnh đạo cao nhất, công khai khởi xướng, không những không lụi tàn sau khi bị đàn áp mà  còn có xu thế phát triển.

Từ trong nội bộ nhân dân. Ngoài những biểu tình, chống đối vì nguyên nhân kinh tế ra, những phản kháng chính trị (thư công khai, lên trên kêu oan, tố cáo v.v..) đã bắt đầu có những hoạt động có tính tổ chức như Pháp Luân Công (ban đầu là một tổ chức tập luyện khí công, chữa bệnh bằng khí công được phép hoạt động. số ngườì tham gia ngày càng đông, diện tham gia ngày càng rộng, cuối cùng bị chính quyền chính thức trấn áp, hiện nay còn cơ sở ở nước ngoài và hoạt động bí mật lẻ tẻ ở trong nước), Đảng Tân Dân, hay thành lập Chính phủ quá độ bí mật. (Tuy lực lượng chống đối này còn nhỏ yếu, nhưng là hiện tượng mới xuất hiện)

Những người TQ chạy ra nước ngoài. Gồm những ngườì hoạt động “dân chủ” bị chính phủ trục xuất như Phương Lệ Chi, Nguỵ Kinh Sinh v.v., hoặc bỏ trốn ra nước ngoài (như Hứa Gia Đồn-nguyên UVTW đảng, Bí thư tỉnh uỷ, phụ trách Tân Hoa xã ở Hồng Công, Nghiêm Gia Kỳ-một Viện trưởng thuộc Viện Khoa học xã hội, Lưu Tân Nhạn-nhà văn(đã mất), Bào Đồng-thư ký chính trị của Triệu Tử Dương v.v..). Những lực lượng chống đối này hiện nay chưa có sự móc nối với nhau rõ rệt, nhưng khi tình thế có sự thay đổi đột biến, họ rất có thể dễ dàng kết hợp trong ngoài nước, trong đảng và ngoài đảng trở thành lực lượng không thể xem thường.

♦  Vấn đề dân tộc

Trung Quốc là nước có nhiều dân tộc, trong đó vấn đề Tây Tạng, người Tân Cương và người theo đạo Hồi vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ ly khai, bùng nổ xung đột. Tây Tạng, chỉ “thực sự trở về” với Trung Quốc đầu những năm 50 của thế kỷ trước và đã mấy lần nổi dậy, hiện nay lãnh đạo tinh thần của dân Tạng là Đạt Lai Lạt Ma vẫn ở nước ngoài và đã tuyên bố người “truyền thế” của ông không nhất thiết phải ở trong nội địa Trung Quốc. Ông này được sự công khai ủng hộ của dư luận và người lãnh đạo của một số nước phương Tây (Mỹ, Đức, Na Uy…). Ở Tân Cưong đầu những năm 60 đã có hàng vạn người bỏ quê sang sống ở mấy nước SNG Trung Á ngày nay và sự chống đối chính quyền TW chưa bao giờ tắt. Gần 10 triệu dân Hồi cũng là những nguy cơ tiềm ẩn.

 ♦  Về chính sách sinh đẻ có kế hoạch

Để giải quyết vấn đề tăng dân số quá nhanh và tổng mức dân số quá lớn, từ năm 1980 Trung Quốc thực hiện nghiêm khắc chế độ chỉ cho phép sinh một con. Chính sách này đã có tác dụng tốt là giảm mức tăng dân, nhưng đã mang lại những hậu quả có tác hại lâu dài mà lúc đầu không ai tính ra. Trước hết là chế độ sinh một con đã làm cho số người phải nuôi dưỡng ngày một lớn so với số người đang tuổi lao động-hai vợ chồng phải phụng dưỡng 4 bố mẹ, và có thể tới 8 ông bà, nhưng điều quan trọng hơn là, vì dân chúng còn nhiều tàn dư phong kiến: trọng nam khinh nữ, hơn nữa ở nông thôn hiện nay, sức lao động nam rất quan trọng, cộng thêm kỹ thuật siêu âm khá phổ biến nên khi phát hiện thai nhi là nữ phần lớn đã nạo thai, cho đến khi được thai nhi  là nam mới thôi. (Theo số liệu của Tập san y học The Lancet thì trên tổng số 100 triệu thai nhi vì là nữ mà bị nạo trên thế giới thì có tới 50 triệu là của Trung Quốc). Kết quả là tỷ lệ giới tính ở Trung Quốc hiện nay đã lâm vào tình trạng nguy hiểm; nói chung tỷ lệ nam/nữ là 100/104 là hợp lý, nhưng hiện nay đã là 120-130/100. Tình trạng đó khiến con trai Trung Quốc càng ngày càng khó lấy vợ, nhiều người không thể lấy được vợ. Từ đó nẩy sinh tệ nạn buôn bán phụ nữ(năm 1990-1991 vì buôn bán phụ nữ mà bị bắt tới hơn 60.000 vụ), tệ đồng tính luyến ái tăng lên (có người Trung Quốc lo tệ đồng tính luyến ái nam rồi sẽ vượt San Francisco Mỹ)

♦  Vấn đề tham nhũng, hủ bại

 Theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 2003-2006 mỗi năm các cơ quan đảng chính dùng tiền công chi cho việc ăn chơi, giải trí dao động từ 300tỷ NDT-350 tỷ NDT, mỗi năm thay mới và tăng thêm khoảng 500.000-650000 ôtô du lịch, tốn khoảng 200 tỷ NDT; tại một số sân Golf chi phí công chiếm tới 75%-90% v.v…Trung Quốc coi hủ bại là nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của đảng và chế độ, đã tích cực đề ra nhiều biện pháp nghiêm khắc để ngăn chặn, một ví dụ như: trong 5 năm qua(2003-2007) đã xử lý 35 cán bộ cấp tỉnh, bộ (trong đó UV Bộ Chính trị Trần Lương Vũ) và 930 cán bộ cấp vụ, cục về tội này (trước đó đã từng cho cha con UV Bộ Chính trị Trần Hy Đồng vào tù và xử bắn Phó Chủ tịch UBTV Quốc hội Thành Khắc Kiệt vì các tội danh tương tự) nhưng xem ra tình hình vẫn không sáng sủa hơn mà có xu thế mỗi ngày một tăng (những năm 80 chỉ có 2 cán bộ cấp tỉnh, bộ, những năm 90 con số này là 15 và từ 2000-2007 là hơn 70 người bị xử lý)

♦  Sức ép quốc tế

Nhìn chung thế giới khâm phục, kinh ngạc trước những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc đã đạt được, nhưng đi kèm theo đó là nỗi lo ngại sự “lớn mạnh” của Trung Quốc, luận điểm “Trung Quốc đe doạ” không phải vô cớ được tung ra, mặc dù Trung Quốc đã từng sửa khẩu hiệu chiến lược của mình từ “Trung Quốc trỗi dậy” thành “Trung Quốc trỗi dậy hoà bình”, “phát triển hòa bình”, v.v.. nhưng phần đông các nước láng giềng và trong khu vực đều giữ thái độ cảnh giác, thận trọng trong cư xử với Trung Quốc. Có người Trung Quốc đã cay đắng và cả hằn học nữa thốt lên: “dưới cái mũ lớn “thuyết Trung Quốc đe doạ”  còn có nhiều thuyết “đe doạ nhỏ” nữa, nào là mối đe doạ của tỷ suất thấp của đồng NDT, mối đe doạ của an toàn thực phẩm Trung Quốc, mối đe doạ của việc môi trường Trung Quốc xấu đi, mối đe doạ do nhu cầu năng lượng của Trung Quốc tăng nhanh, mối đe dọa do Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng v.v. Cần biết rằng lượng khí thải CO2 của Trung Quốc tuy đứng thứ hai thế giới (hiện nay đã là thứ nhất rồi) nhưng nếu tính theo đầu người Trung Quốc chỉ đứng thứ 92.

Trung Quốc đề ra phương châm với các nước xung quanh là “Láng giềng là hàng đầu”, và “làm bạn vói láng giềng, hòa thuận với láng giềng, làm yên lòng láng giềng, giầu có cùng láng giềng”. Mặc dù Trung Quốc mấy năm gần đay đã tuyên bố “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác, cùng hưởng lợi” trong quan hệ với các nước ở Biển Đông, nhưng người ta vẫn không hoàn toàn yên tâm, vừa quan hệ vừa cảnh giác.

3. Dự báo về kinh tế Trung Quốc trong tương lai.

Trong tình hình đổ tiền đầu tư quá mức như hiện nay, hiện tượng dư thừa xuất hiện và con tàu kinh tế Trung Quốc sẽ phải phanh gấp. Rất nhiều lĩnh vực và ngành nghề đang đầu tư thái quá. Từ đó sẽ nảy sinh quá nhiều các khoản nợ xấu, trái phiếu chính phủ tăng lên không thể thanh toán. Hậu quả là khủng hoảng nợ công sẽ xảy ra. Thực tế hiện nay cho thấy nợ công của Trung Quốc hiện lên tới 28 000 tỷ nhân dân tệ, tức khoảng 3 200 tỷ euro và tương đương 68 % tổng sản phẩm nội địa. Trung Quốc đang lâm vào “hội chứng  Hy Lạp”. Các tỉnh nghèo và kém phát triển dễ dàng được cấp tín dụng để mở mang kinh tế. Vốn được dồn cho các công ty doanh nghiệp nhà nước nhưng các đơn vị đó lại làm ăn kém hiệu quả.

Bên cạnh hồ sơ nóng bỏng là nợ công, Trung Quốc còn đang phải đau đầu giải quyết lạm phát trong viễn cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại. Theo dự phóng của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế tăng trưởng trong năm nay và sang năm sẽ chỉ ở vào khoảng 9 % do tác động dây chuyền từ các khó khăn của Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Lạm phát thì vẫn cao hơn từ 2 đến 3 điểm so với mục tiêu được Bắc Kinh đề ra. “Kế hoạch 5 năm” trước đây của Trung Quốc đều nhấn mạnh phải tăng tỉ lệ tiêu dùng trong GDP, nhưng kết quả đều ngược lại: 1990 tỉ lệ tiêu dùng chiếm 50% GDP nay tụt xuống chỉ còn 35%. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 hiện nay cũng sẽ rơi vào tình trạng tương tự. Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành một loạt cải cách, nhưng đều vấp phải sựu cản trở của nhân tố chính trị. Bởi vì, những cải cách này đều đụng chạm tới lợi ích của các phe nhóm trong xã hội, đặc biệt là các “tập đoàn lợi ích” có đại diện là các quan chức trong bộ máy công quyền. Những tập đoàn này đã tìm cách vận động ở  trong và ngoài quốc hội nhằm hạn chế “tác hại” của những cải cách này. Đây là điều đáng lo ngại. Hiện tượng “quốc tiến, dân lùi” (tức là doanh nghiệp quốc doanh bành trướng, choán hết không gian của kinh tế tư nhân, trong khi không gian phát triển của kinh tế tư nhân ngày càng bị thu hẹp) đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội hài hòa ở Trung Quốc. Đây chính là nguy cơ tiềm ẩn trong nền kinh tế Trung Quốc. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này là các “tập đoàn lợi ích” trong xã hội có đại diện là các quan chức trong bộ máy công quyền không muốn cải cách. Vấn đề tồn tại lớn nhất của kinh tế Trung Quốc hiện nay là cơ cấu không hợp lý, phát triển kinh tế theo kiểu “ỷ lại” vào nhà nước. Đây chính là vấn đề cốt lõi khiến cho đến một dự báo về tương lai nền kinh tế Trung Quốc buộc sẽ nguội dần.