Một số giải pháp cho quan hệ thương mại Việt Nam Nhật Bản.

Hiện Nhật Bản là nước viện trợ lớn nhất cho Việt Nam, đồng thời là nước đầu tư lớn thứ 3 vào Việt Nam với tổng số vốn đầu tư theo cam kết lên tới 4,48 tỉ USD, trong đó 3,95 tỉ USD đã được giải ngân.
Quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam và Nhật Bản là một trong những mối quan hệ lớn, ổn định, lâu dài trong hoạt động kinh doanh đối ngoại của nước ta. Hơn nữa nước ta nằm trong khu vực châu Á và là thành viên của khối các nước ASEAN nên chúng ta cùng chịu tác động chiến lược kinh tế tài chính của Nhật Bản đối với khu vực châu Á và của khối ASEAN đối với Nhật Bản.

Tăng cường hợp tác kinh tế với Nhật Bản nhằm tranh thủ các lợi ích kinh tế có được, phục vụ cho sự nghiệp kinh tế- xã hội, nhưng đồng thời để giảm tối thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào Nhật Bản cũng như tác động xấu đến chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới, chúng ta cần xây dựng những chiến lược cụ thể trong quan hệ kinh tế và quan hệ đối ngoại với Nhật Bản trên quan điểm: Đánh giá đúng chiến lược kinh tế các nước trong khu vực, các tổ chức quốc tế, thấy rõ những điểm bất đồng giữa ta và họ, củng cố tăng cường các điểm chung, không bỏ lỡ thời cơ hợp tác để tránh những bất đồng về lợi ích giữa các bên.

Cải tiến hệ thống chính sách thuế khóa và thuế quan phù hợp với tự do hóa thương mại thế giới:Nhanh chóng thực hiện các chương trình về thuế quan trong chương trình của khối ASEAN để có thể sớm hòa nhập vào thị trường khu vực và có thể tham gia và có thể tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này sẽ tạo cho chúng ta cơ hội tham gia vào quá trình hoạt động thương mại với Nhật Bản. Thông qua việc cung cấp các nguyên- nhiên liệu đầu vào cho mạng lưới các công ty Nhật Bản, đã và đang được hình thành trên khu vực châu Á sẽ tăng thêm về mặt số lượng và hiệu quả kinh tế đối với hàng hóa của ta.
Song song với chương trình cắt giảm thuế quan , chúng ta cũng nên      mạnh dạn áp dụng các mức thuế ưu đãi đối vơi thu nhập của các doanh nghiệp trong nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu nhập cao hơn. Để tăng nhanh khối lượng hàng hóa qua chế biến, cách tốt nhất là chính phủ nên đưa ra các chính sách tích cực, khuyến khích sự tham gia của các hãng Nhật Bản trong quá trình sản xuất, chế biến hàng háo xuất khẩu của Việt Nam. Đây chính là chìa khóa để Việt Nam nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và thị trường các nước khác.
Ngoài ra, Việt Nam cũng phải có những biện pháp hiệu quả trong việc chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu hợp lý để quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản phát triển thực sự với tiềm năng và nhu cầu của hai nước. Nhất là về phía Việt Nam, chúng ta phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện hệ thống hoạt động ngoại thương, không chỉ dừng lại trong việc nâng cao chất lượng của cơ sở hạ tầng mà ở ngay cả các chính sách thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, đội ngũ cán bộ công nhân viên… Hiện tại, để giảm bớt sự trả giá, ngay từ bây giờ cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng là: làm giảm và tiến tới loại bỏ các nguyên, nhiên liệu thô, gia tăng tỷ trọng xuất khẩu của những mặt hàng đã qua chế biến. Cơ cấu nhập khẩu cũng phải chuyển dịch theo hướng ưu tiên nhập khẩu những máy móc công nghệ đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nước. Có nghĩa là các công nghệ hiện đại sẽ chiếm tỷ trọng cao trong giá trị nhập khẩu của Việt Nam, bởi vì Nhật Bản là một nước có tiềm lực khoa học công nghệ rất phát triển so với các quốc gia khác trên thế giới. Các mặt hàng tiêu dùng, nếu không phải là thiết yếu thì sẽ không nhập khẩu hoặc chỉ nhập khẩu với tỷ trọng không đáng kể, ưu tiên dành mọi nguồn lực cho nhập khẩu máy móc, công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tình trạng yếu kém trong khả năng tài chính của các công ty Việt Nam, nhất là các công ty nhà nước, khiến hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam – Nhật Bản giảm sút. Do vậy, chính phủ cũng cần có những chính sách và biện pháp tích cực để giải quyết triệt để những khoản nợ mà các công ty Việt Nam đang mắc phải( chủ yếu là nợ khó đòi). Cho phép các công ty mua lại dưới hình thức trả chậm. Chính phủ Việt Nam cũng cần phải có những biện pháp củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước kể cả những doanh nghiệp đã cổ phần hóa. Có thể cho giải thể những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong các lĩnh vực ít phục vụ cho nền kinh tế quốc dân. Đẩy nhanh hơn tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hơn nữa vai trò của thị trường chứng khoán trong đời sống kinh tế quốc gia, đồng thời khuyến khích phát triển đa dạng hóa kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, đa dạng hóa cả những thành phần kinh tế ngoài 6 thành phần kinh tế chính.

Mặt khác, chính phủ cũng cần có biện pháp nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc hơn về cách thức làm ăn của người Nhật, để điều chỉnh lại chính sách của mình cho phù hợp hơn để tăng cường hiểu biết hơn nữa về thị trường đối tác của mình. Hiện nay, Việt Nam đã thành lập các trung tâm tư vấn chuyên về Nhật Bản thuộc Bộ thương mại nhằm giảm bớt những thua thiệt không đáng có của các công ty Việt Nam khi kí hợp đồng gia công, liên doanh… với các công ty Nhật Bản.

Một vấn đề không kém phần quan trọng đối với hoạt động thương mại đó là chúng ta phải tích cực đẩy mạnh việc tìm kiếm, mở rộng thị trường ra các nước trước hết với các nước trong khu vực ASEAN và thu hút nhiều quốc gia hợp tác để tránh tình trạng phụ thuộc vào các công ty Nhật Bản trong việc cung cấp sản phẩm đầu tư cũng như tiêu thụ các sản phẩm đầu ra. Mục đích của việc này, một mặt là để hạn chế và chia nhỏ những rủi ro cho các nhà xuất khẩu Việt Nam khi các thị trường truyền thống bị biến động. Mặt khác nâng cao tính cạnh tranh, vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tránh bị ép giá do mất đầu ra.

Ngoài ra, cũng cần có các biện pháp triển khai từ cả hai phía Việt Nam và Nhật Bản. Đó là hai nước cần có trao đổi, bàn bạc cụ thể trong khuôn khổ song phương để đi đến kí kết hiệp định thương mại giữa hai nước, trong đó Nhật Bản dành cho Việt Nam quy chế tối huệ quốc( MFN) đầy đủ. Hiệp định này nếu được kí kết sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển hơn nữa.

Sớm thành lập cục xúc tiến thương mại để làm cầu nối giữa bộ Thương mại, thương vụ tại các nước với doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài trong việc trao đổi, thu thập thông tin về thị trường cũng như thông tin về hàng hóa nước ngoài.
Trong tiến trình cải thiện môi trường đầu tư và đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phía nhà nước Việt Nam cần hết sức quan tâm tới vốn đầu tư nước ngoài, phía nhà nước Việt Nam cần hết sức quan tâm tới vốn đầu tư của Nhật Bản vì các nhà đầu tư Nhật khi chuyển sang sản xuất tại Việt Nam sẽ xuất khẩu trở lại Nhât Bản một phần, hoặc có thể toàn bộ sản phẩm của nhà máy họ, góp phân fnaang cao kim ngạch hàng hóa sản xuất tại Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản. Đặc biệt các nhà đầu tư Nhật Bản cũng rất quan tâm đến sự kiện Việt Nam kí hiệp định thương mại song song với Mỹ ngày 13/7/2000 và sự kiện Việt Nam đăng cai tổ chức Seagames lần thứ của Đông Nam Á. Đây là cơ hội cho các cơ sở đầu tư của họ tại Việt Nam có thể xuất khẩu hàng hóa sang cả thị trường Mỹ và các nước khác giúp cho việc tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung và tạo ra một cơ hội cho việc tiếp thị quảng cáo giới thiệu sản phẩm mới.
Giải quyết khó khăn cho các nhà đầu tư Nhật Bản:Bộ đã tiến hành khảo sát và theo dõi 500 doanh nghiệp Nhật Bản về thực tiễn hoạt động cũng như các vướng mắc khó khăn gặp phải khi làm ăn tại Việt Nam. Trong đó,  các khía cạnh như việc thực thi các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, áp dụng chính sách kế toán, chính sách lao động, tiền lương, đất đai, xây dựng… đều được nghiên cứu. Kết quả của khảo sát trên sẽ là tiền đề quan trọng để Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá, nghiên cứu nhằm cải thiện hệ thống chính sách, pháp luật để giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp Nhật Bản.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/9/2012, Nhật Bản có 758 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 28,6 tỷ USD, đứng thứ nhất trên 96 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các dự án đầu tư của Nhật Bản phân bố trên cả 63 tỉnh thành, tuy nhiên tập trung chính ở các thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương.
Hiện quan hệ thương mại – đầu tư giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản đang có bước phát triển tốt trên nền tảng quan hệ chính trị bền vững. Điều này thể hiện rõ ở việc trong những năm gần đây ngày càng có nhiều nhà đầu tư Nhật Bản  sang Việt Nam tìm kiếm cơ hội làm ăn, kinh doanh. Một điểm mới nữa là hiện không chỉ có các nhà đầu tư lớn, tập đoàn mà ngay đến các doanh nghiệm nhỏ và vừa (SMEs) của Nhật Bản cũng coi Việt Nam là một thị trường đầu tư đầy tiềm năng, hứa hẹn, đang có những kế hoạch đầu tư lâu dài. Tuy nhiên, phía Nhật Bản cũng mong muốn Chính phủ Việt Nam cần có các kế hoạch cụ thể hơn nữa về cải cách thủ tục hành chính, luật pháp cũng như các quy định về kế toán, kiểm toán, thuế và các quy định về đầu tư, kinh doanh… để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư Nhật Bản.
Ngoài ra, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng cho rằng, việc phát triển quá nhanh các khu công nghiệp trong định hướng phát triển của Chính phủ Việt Nam đã làm cho không ít các doanh nghiệp Nhật Bản thiếu hụt nguồn lao động. Điều này dẫn đến việc họ khó có thể sử dụng, tuyển dụng nguồn nhân lực địa phương, không tìm được lao động đã qua đào tạo, kỹ sư lành nghề. Các doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn Chính phủ Việt Nam xây dựng các chương trình đào tạo thực hành theo yêu cầu của các nhóm ngành, nâng cao năng lực của các trường đào tạo nghề, có chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật phù hợp với nhu cầu thực tế, chú trọng vấn đề thực hành. Đặc biệt, một biện pháp có tính khả thi cao từ phía doanh nghiệp Nhật Bản đề xuất là thành lập các cơ sở đào tạo của mình tại Việt Nam. Thêm vào đó, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng mong muốn có được nguồn cung cấp điện ổn định, và được nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin, hạ tầng khu công nghiệp…

Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Nhật Bản: Tổ chức các hội thảo nhằm đánh giá đúng thực trạng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản và đề ra các giải pháp khả thi để thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác này trong tương lai trên các lĩnh vực đầu tư  phát triển, thương mại, du lịch, giáo dục đào tạo và giao lưu văn hóa.

Hơn 30 năm qua, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt trong giai đoạn từ đầu thập kỷ 90 đến nay, Việt Nam – Nhật Bản đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về chính trị và kinh tế. Không những là đối tác hàng đầu về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và về quan hệ thương mại, Nhật Bản còn là một trong những quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp (FDI) lớn nhất vào nước ta.

Để tăng cư­ờng thu hút đầu tư­ của Nhật Bản, Việt Nam cần giải quyết sớm bài toán phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cùng với việc tháo gỡ các vư­ớng mắc khác đang tồn tại trong ngành này – đây chính là chìa khóa để Việt Nam có thể đón bắt đ­ược làn sóng đầu tư­ mới của Nhật Bản. Công nghiệp phụ trợ có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI, bởi vì bản thân các tập đoàn và các công ty lớn về lắp ráp hiện cũng chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một công ty hay nhà máy.
Trên thực tế, Việt Nam rất có tiềm năng phát triển công nghiệp phụ trợ như lợi thế về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên. Việc ngày càng nhiều các doanh nghiệp nư­ớc ngoài quan tâm đầu t­ư vào Việt Nam đang tạo ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ bởi khi quyết định đầu tư­, các doanh nghiệp nư­ớc ngoài đánh giá rất cao sự hỗ trợ của các doanh nghiệp công nghiệp ở khu vực xung quanh nhằm gia tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm. Ông Junichi Mori, chuyên gia UNIDO cho biết, đối với các sản phẩm điện tử tiêu dùng, chi phí vật liệu và linh phụ kiện chiếm 70% chi phí sản xuất, phần còn lại bao gồm chi phí về lao động (khoảng 10%), chi phí chế tạo (18%) và chi phí hậu cần (2%) . Chính vì vậy, việc cắt giảm chi phí lao động của sản phẩm sẽ không thu đ­ược nhiều kết quả so với việc cắt giảm chi phí theo linh phụ kiện. Điều tra của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cũng cho thấy, khoảng 32% số công ty Nhật Bản coi Việt Nam là n­ước tiềm năng để phát triển sản xuất và tỏ rõ sự quan tâm tới Việt Nam. Ngành công nghiệp chế tạo Nhật Bản xác định, trong 3 năm tới, trong số các n­ước có tiềm năng phát triển sản xuất, Việt Nam được đặt ở vị trí thứ 4 sau Trung Quốc, Thái Lan và Mỹ.
Về phía Nhà n­ước, đứng trư­ớc sự yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ, mũi đột phá là phải tập trung năng lực vật chất để giải quyết. Để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ trư­ớc hết đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có khuôn khổ chính sách phù hợp và sự hỗ trợ đúng mức từ các đối tác Nhật Bản. Muốn làm đư­ợc điều đó, tr­ước hết chúng ta cần phải dựa vào “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản”. Như­ng điều quan trọng hơn là sự sẵn sàng của các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà n­ước và doanh nghiệp tư­ nhân trong phát triển những công nghệ mới phù hợp với nhu cầu về sản phẩm phụ trợ do đầu t­ư mới đặt ra. Tr­ước mắt, cần rà soát lại các doanh nghiệp nhà nước để tìm ra các đơn vị sản xuất có tiềm năng cung cấp các bộ phận, linh kiện, phụ kiện với chất lư­ợng và giá thành cạnh tranh, từ đó tăng c­ường hỗ trợ về vốn, công nghệ để tiềm năng trở thành hiện thực. Chính phủ cần phải có chế độ khuyến khích thỏa đáng cho các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp trong n­ước và doanh nghiệp có vốn đầu t­ư n­ước ngoài, nhằm tạo điều kiện cho họ thực hiện thành công việc sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đạt hiệu quả và chất l­ượng tốt.
Về phía doanh nghiệp, để có thể trở thành các nhà cung cấp linh, phụ kiện cho các hãng nư­ớc ngoài, cần chú trọng tuân thủ 3 nguyên tắc bất di bất dịch khi cộng tác với các đối tác n­ước ngoài: Đảm bảo giao hàng đúng hạn; chất l­ượng sản phẩm luôn ổn định; và giá cả luôn cạnh tranh. Đối với các doanh nghiệp FDI, tiêu chuẩn để lựa chọn đối tác là chỉ những doanh nghiệp nào đáp ứng đ­ược đủ các điều kiện về chất l­ượng, thời gian giao hàng thì mới đư­ợc chọn.Các linh kiện chỉ đạt từ 80-90% chất l­ượng tiêu chuẩn để lắp ráp vào sản phẩm hoàn chỉnh sẽ không đư­ợc chấp nhận.Điều này là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong n­ước, đặt ra yêu cầu cho các công ty này phải tự trau dồi để nâng cao năng lực, cải tiến chất l­ượng. Một số nhà cung cấp trong n­ước hiện là đối tác của các công ty liên doanh, công ty vốn đầu t­ư n­ước ngoài đã phải bỏ nhiều công sức tìm hiểu đối tác, nắm bắt công nghệ và cách quản lý, điều hành của các công ty Nhật, bên cạnh đó là đầu tư­ thiết bị, nhà x­ưởng, cải tạo điều kiện làm việc, áp dụng các tiêu chuẩn ISO…

Những giải pháp công nghiệp ở địa phương để thu hút công nghiệp hỗ trợ từ Nhật Bản:Xác định tầm nhìn và quy hoạch. Đây là vấn đề cốt lõi xây dựng định hướng thu hút đầu tư của địa phương. Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, phân tích các lợi thế so sánh của địa phương để xác định có thu hút phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh hay không? Khi đã xác định nhu cầu cần thiết phải phát triển công nghiệp hỗ trợ, nên rà soát lại quy hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Từ đó căn cứ vào yêu cầu của các nhà đầu tư Nhật Bản để xác định bố trí quy hoạch khu công nghiệp dành riêng cho phát triển công nghiệp hỗ trợ. Vị trí quy hoạch cần thỏa mãn nhu cầu xây dựng khu công nghiệp kết hợp với đô thị mới.
Chuẩn bị các điều kiện về môi trường pháp lý và nhân lực. Cần nghiên cứu các chính sách khuyến khích, ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ của Nhà nước, vận dụng có hiệu quả vào điều kiện của địa phương, xây dựng các chính sách khuyến khích ưu đãi riêng của địa phương nhưng không trái với quy định của pháp luật. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, hoàn chỉnh cơ chế “một cửa tại chỗ”, nên có dịch vụ một cửa bằng tiếng Nhật, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư khi tiến hành các thủ tục hành chính trong đầu tư, nhất là nhà đầu tư công nghiệp hỗ trợ Nhật Bản. Chú trọng đào tạo các nghề lao động kỹ thuật liên quan đến ngành công nghiệp hỗ trợ (cơ khí, điện, điện tử, hàn, cắt gọt kim loại, công nghệ thông tin…) để đạt được trình độ các doanh nghiệp Nhật Bản yêu cầu. Đặc biệt đào tạo ngoại ngữ tiếng Nhật và văn hóa, tác phong kỷ luật lao động của người Nhật.
Chuẩn bị các điều kiện về hạ tầng cơ sở. Trên cơ sở quy hoạch khu công nghiệp dành riêng cho công nghiệp hỗ trợ, bố trí nguồn lực và tiến hành đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu ngoài hàng rào. Đồng thời kêu gọi thu hút các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp-đô thị đồng bộ. Như trên đã đề cập, đây là điều kiện cần thiết tuyệt đối để thu hút được các nhà đầu tư công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản. Việc xây dựng loại khu công nghiệp-đô thị này nên kêu gọi các nhà đầu tư hạ tầng từ Nhật Bản góp vốn và nên thuê các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp từ Nhật Bản.
Tăng cường xúc tiến đầu tư và đối ngoại nhân dân. Khi đã chuẩn bị cơ bản các điều kiện, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp xúc tiến đầu tư tại thị trường Nhật Bản. Có thể phải mở văn phòng giao dịch tại Nhật Bản để cung cấp thông tin đầu tư và giải quyết ngay các thủ tục đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản. Tận dụng sự giúp đỡ của các tổ chức xúc tiến đầu tư của Nhật Bản như JICA, JETRO…, các “cần ăng ten thu hút đầu tư nước ngoài” – tham tán kinh tế của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nằm tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản để quảng bá hình ảnh của tỉnh. Tăng cường công tác đối ngoại nhân dân nhằm nâng cao tình đoàn kết, hợp tác hữu nghị giữa các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội nghề nghiệp và nhân dân trong tỉnh với các tổ chức và nhân dân Nhật Bản. Thông qua đối ngoại nhân dân để các nhà đầu tư Nhật Bản cảm thấy tin tưởng, gần gũi, gắn bó và yên tâm khi đầu tư tại địa phương.

Thúc đẩy hợp tác pháp luật và tư pháp Việt Nam – Nhật Bản:
Sự hợp tác ngày càng sâu rộng giữa hai nước Việt – Nhật trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, nhấn mạnh mong muốn của Chính phủ Việt Nam được tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác pháp luật và tư pháp song phương để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quan hệ kinh tế, thương mại và giao lưu dân sự đang tăng nhanh trong bối cảnh hai nước xây dựng quan hệ đối tác chiến lược.

Nhật Bản cam kết sẽ không ngừng nỗ lực tham mưu giúp Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh để góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động thành công tại Việt Nam.
Hai nước đã cùng nhau trao đổi về mô hình và phạm vi phân cấp đối với địa phương của Nhật Bản trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, tài chính ngân sách và vấn đề chủ quyền nhân dân đối với chính quyền địa phương…

  •   Tóm lại, trong xu thế ổn định, hợp tác phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương cùng dấu hiệu tích cực trong cải cách phát triển kinh tế ở cả hai quốc gia, với việc phối hợp chặt chẽ triển khai những giải pháp cơ bản nêu trên, chúng ta có thể hy vọng về tương lai rực sáng trong quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản trong thời gian tới.