Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy các vùng chuyên môn hoá ở Việt Nam tiếp tục phát triển

Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy các vùng chuyên môn hoá ở Việt Nam tiếp tục phát triển
Đánh giá bài viết

Các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã và đang hình thành rõ nét, đặc biệt từ sau những năm 90 của thế kỷ 20 trở đi. Nhìn lại hai thời kỳ có cơ chế kinh tế và cơ chế quản lý khác nhau cho thấy, ở mỗi thời kỳ đều có hạn chế nhất định trong việc hình thành và phát triển của vùng chuyên môn hoá sản xuất . ở thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, việc nghiên cứu những điều kiện để phát triển vùng chuyên môn hoá khá kỹ lưỡng, từ đó đã qui hoạch từng vùng chuyên môn hoá cụ thể, với qui mô sản xuất đã được tính toán khoa học. Tuy nhiên, rất tiếc là các vùng lại khó hình thành, hoặc nếu có hình thành cũng phát triển rất khó khăn. Sang thời kỳ kinh tế thị trường, việc qui hoạch các vùng chuyên môn hoá có phần bị buông lỏng, hoặc trong công tác xây dựng, hoặc trong công tác quản lý thực hiện. Qui mô của các vùng chuyên môn hoá bị cơ chế thị trường chi phối quá mạnh. Hậu quả là cả nông dân, cũng như xã hội đều phải trả giá cho xu hướng mở rộng sản xuất quá mức được coi là hợp lý. Cả hai thái cực trên đều dẫn đến sự phát triển không bền vững các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp. Do vậy, trong thời gian tới, để phát triển bền vững các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, cần khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường, kế thừa những giá trị hợp lý trong công tác qui hoạch trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, phát huy tác động tích cực của cơ chế thị trường. Những yêu cầu đó có thể được khái quát ở hai giải pháp chủ yếu như sau:

1-    Hoàn chỉnh công tác qui hoạch các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp.

Cho đến năm 2000, chúng ta đã nhiều lần qui hoạch qui mô diện tích một số loại cây ở các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đã có khoảng cách khá lớn giữa diện tích dự kiến trong qui hoạch và thực tế. Do vậy, trong thời gian tới, cần rà soát lại các qui hoạch đã xây dựng, bao gồm cả qui hoạch theo từng chuyên ngành, và qui hoạch của từng vùng kinh tế – sinh thái. Cần có sự khớp nối giữa qui hoạch chuyên ngành và qui hoạch ở mỗi vùng.

Khi rà soát lại các qui hoạch chuyên ngành và qui hoạch vùng, cần quán triệt quan điểm phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Theo quan điểm này, việc qui hoạch chỉ mang tính định hướng, không mang tính áp đặt hành chính. Tuy nhiên, cần lưu ý thêm rằng, chủ trương của Đảng ta là phát triển nền kinh tế thị trường, nhưng phải theo định hướng XHCN. Để đảm bảo được định hướng đó, cần chú trọng trước hết đến vai trò quản lý của Nhà nước, đồng thời cũng phải thấy được vai trò định hướng của Nhà nước thông qua xây dựng cơ cấu các thành phần kinh tế, thông qua thực hiện các chính sách kinh tế, thông qua việc đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở từng vùng.

2-    Quản lý thực hiện qui hoạch.

Có thể nói, việc xây dựng qui hoạch phát triển các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp là rất phức tạp, là công việc khó khăn. Song chúng ta đã có khá nhiều kinh nghiệm xây dựng qui hoạch từ thời nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Việc quản lý thực hiện qui hoạch trong điều kiện chuyển nền kinh tế từ vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường đang gặp nhiều lúng túng trong thực tiễn. Nhiều nơi, qui hoạch một đường, thực tiễn đi một nẻo. Nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo hình thành và duy trì vùng chuyên môn hoá phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường. Trong tình hình mới, để quản lý thực hiện qui hoạch phát triển các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp cần thực hiện một cách tổng hợp các giải pháp sau:

2.1- Qui hoạch và tổ chức xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, trong đó, trước hết phải ưu tiên phục vụ sự phát triển của sản phẩm chuyên môn hoá nông nghiệp. Tuỳ đặc điểm thực tế ở mỗi vùng mà cần tập trung ưu tiên xây dựng yếu tố nào trong hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Có nơi đó là hệ thống kênh mương tưới, tiêu nước; có nơi đó lại là hệ thống hồ đập tạo nguồn nước tưới vào mùa khô; có nơi lại là hệ thống đường nội đồng… Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, việc đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật có ý nghĩa dẫn đường cho vùng chuyên môn hoá hình thành và phát triển. Việc này cần phải có bàn tay của Nhà nước từ công tác qui hoạch, thiết kế đến tổ chức huy động vốn, tổ chức xây dựng công trình, tổ chức khai thác và quản lý công trình.

2.2- Tiến hành đồng bộ giữa xây dựng vùng sản xuất chuyên môn hoá nông nghiệp và xây dựng các doanh nghiệp công nghiệp chế biến.

Đối với các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, cả về lý luận cũng như thực tiễn đã chứng minh vai trò hạt nhân tạo cùng của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giải quyết vấn đề thị trường sản phẩm đầu ra cho các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp.

2.3- Nhà nước định hướng hình thành vùng thông qua các hoạt động dịch vụ cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất, trong đó các loại giống cây, con có ý nghĩa rất quan trọng. Sau khi đã xây dựng xong qui hoạch vùng chuyên canh, sau khi đã khuyến cáo, tuyên truyền, tổ chức các mô hình trình diễn, và giới thiệu thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra có triển vọng, thì tự các hộ nông dân sẽ huy động các nguồn lực cho phát triển sản xuất sản phẩm chuyên môn hoá mà Nhà nước đã định hướng. Khi đó, việc cung ứng các yếu tố đầu vào sẽ là nhân tố quyết định tốc độ phát triển của vùng chuyên môn hoá. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, phải đề phòng xu thế tăng trưởng quá nóng của quá trình mở rộng qui mô vùng chuyên môn hoá. Tức là đề phòng xu thế tăng trưởng quá nhanh, dẫn đến mất cân đối trong việc giải quyết nhiều vấn đề về môi trường, về kinh tế, về xã hội, mà chi phí để giải quyết những hậu quả đó có khi còn lớn hơn kết quả của tăng trưởng quá nóng của vùng chuyên môn hoá đem lại.

2.4- Nhà nước thực thi chính sách hỗ trợ khi rủi ro xảy ra đối với những người sản xuất sản phẩm chuyên môn hoá trong vùng qui hoạch. Ví dụ, Nhà nước có thể thực hiện chính sách bảo hiểm, hỗ trợ cho những người sản xuất khi thị trường suy thoái, mà chỉ những người sản xuất theo qui hoạch mới được hưởng chính sách đó. Điều này giúp cho vùng chuyên môn hoá có thể phát triển ổn định trong điều kiện kinh tế thị trường, đồng thời khuyến khích hộ nông dân cũng như các doanh nghiệp bố trí sản xuất phù hợp với qui hoạch của Nhà nước về vùng chuyên môn hoá.