Một số giải pháp đột phá trong ngắn hạn để cải thiện chất lượng giá trị chào hàng thị trường mục tiêu của Hà Tĩnh

Trong hiện tại vẫn chưa thực sự qua khỏi dư âm của sự cố môi trường (2016) đồng thời cũng là triển khai nguyên tắc chỉ đạo của chính phủ và tỉnh ủy Hà Tĩnh về việc “biến nguy cơ thành cơ hội”, giải pháp cấp thiết có tính đột phá là cải thiện và cung ứng CHTT mới đồng bộ và có giá trị cao hơn để chuẩn bị tốt nhất đón làn sóng FDI mới. Một số giải pháp tập trung đột phá vào nâng cấp các yếu tố còn yếu và trung bình yếu của cấu trúc chiến lược thành phần này.

Thứ nhất, nâng cấp chất lượng, độ hấp dẫn và năng lực cạnh tranh sản phẩm – ĐĐĐT của tỉnh. Các biện pháp cụ thể theo thứ tự quan trọng

  • Tiếp tục tập trung và có định chế đột phá trong thể chế, chính sách thu hút đầu tư “lấp đầy” KCN địa phương bao gồm: phát triển chính sách ưu đãi và hỗ trợ chuyên biệt và đủ hấp dẫn NĐT mới và NĐT hiện hữu mở rộng đầu tư để “lấp đầy” KCN hiện tại; phát triển chính sách ưu đãi có tính kích đẩy chuyên biệt cho các NĐT với DAĐT đúng ngành, đúng công nghệ, đúng chất lượng NĐT mà địa phương kỳ vọng; rà soát và hoàn thiện thể chế chính sách để đảm bảo nguyên tắc: không đánh đổi môi trường với thu hút đầu tư mọi giá – bài học nhãn tiền của Hà Tĩnh.
  • Nâng cao chất lượng và tính sẵn sàng KCHT trong đó đặc biệt quan tâm tới hệ thống thu gom và xửu lý rác thải, chất thải cung của KCN; xây dựng và nâng cấp hệ thống logistics thị trường của địa phương.
  • Cải thiện độ hấp dẫn địa – đầu tư và kinh doanh bao gồm: thu hút NNL kỹ thuật và quản lý chất lượng cao; khuyến khích NĐT tư nhân, DNNVV phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao năng lực chấp nhận và hấp thụ công nghệ mới, hiện đại của địa phương
  • Cải thiện hơn nữa các chỉ số PCI và Papi của tỉnh

Thứ hai, tái cấu trúc và đổi mới tư duy, phương pháp định giá/phí dựa trên giá trị và thực hành giá/phí dựa trên đường cong kinh nghiệm và có tính cạnh tranh theo chuẩn đối sánh. Cụ thể:

  • Đổi mới phương pháp định giá/phí theo nguyên lý markups sang định giá theo
  • Thực hành chính sách giá/phí phù hợp chất lượng, thấp hơn mức giá/phí trung bình của vùng và quốc gia, tiệm cận mức trung bình của khu vực. Điều này đảm bảo sức cạnh tranh giá/phí của địa phương.
  • Phát triển công nghiệp và thương mại vật liệu xây dựng và dịch vụ xây lắp đạt trình độ và chất lượng khu vực và quốc tế để đảm bảo phi phí xây dựng, lắp đặt thiết bị nhà xưởng chấp nhận có tính cạnh tranh, nhanh và thuận lợi cho NĐT.
  • Thực hành nghiêm niêm yết giá/phí, loại trừ các chi phí không chính thức và gây ức chế, bất mãn với NĐT.

Thứ ba, trong nghệ thuật và khoa học marketing, người ta không chỉ chào hàng và chào giá mà còn CHTT các trải nghiệm ĐTKD của NĐT hiện hữu và trong nghiên cứu này cũng chỉ ra qua mô hình hồi quy bội các yếu tố chiến lược: hệ số hồi quy chuẩn hóa của yếu tố này còn lớn hơn/quan trọng hơn so với yếu tố KCHT KCN, kênh marketing và xúc tiến đầu tư hỗn hợp, điều đó có nghĩa, làm tăng yếu tố này lên 1 điểm sẽ đóng góp vào hiệu suất chiến lược tổng thể hơn là các yếu tố quan trọng nêu trên, điều đó cũng có nghĩa cứ 1 nhà đầu tư có trải nghiệm hải lòng sẽ nói điều đó cho 3 NĐT khác, nhưng nếu không hài long sẽ nói cho 11 NĐT khác và cứ thế lan truyền theo cấp số nhân. Để tạo nên một trải nghiệm tích cực cần quan tâm triển khai cấp bách hai nhóm giải pháp sau:

  • Cải thiện nâng cao chất lượng dịch vụ có liên quan đến đầu tư – kinh doanh của NĐT, đó là 5 nhóm dịch vụ chính yếu lần lượt là: dịch vụ quản lý môi trường (giám định, cảnh báo sớm…) cho các doanh nghiệp KCN; dịch vụ logistics thị trường; chỉ số Papi, dịch vụ ngoài hàng rào KCN và nâng cấp đạt trình độ khu vực với dịch vụ hạ tầng KCN, dịch vụ tài chính – ngân hàng.
  • Nâng cao chất lượng quản lý công theo thứ tự quan trọng gồm: chất lượng về tính chuyên nghiệp, đồng hành và phục vụ của công tác quản lý ở các Ban quản lý KCN; chất lượng quan hệ về tính đồng thuận, thân thiện và hợp tác của các cộng đồng doanh nghiệp và người dân địa phương với các NĐT.

Thứ tư, cùng với nâng cấp các yếu tố CHTT, bộ máy marketing địa phương cần triển khai đồng thời và đồng bộ việc xây dựng và phát triển tài sản thương hiệu ĐĐĐT địa phương và hình tượng địa phương dựa trên khách hàng/NĐT bao gồm giá trị nhận biết thương hiệu; giá trị hiệu suất và chất lượng thương hiệu; giá trị chức năng thương hiệu; giá trị hình ảnh thương hiệu; giá trị danh tiếng và lòng trung thành thương hiệu.

Thứ năm, trên cơ sở cải thiện và nâng cấp tiên tục, trong các chu kì chiến lược xác đinh cần cung ứng những CHTT mới với giá trị cung ứng NĐT mục tiêu cao, khác biệt, khó bắt chước và duy nhất.