Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn

1 – Đào tạo, dạy nghề cho lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thu hút họ vào các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc du nhập nghề mới ở địa phương bị thu hồi đất.

Nhu cầu sử dụng lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất rất lớn, nên việc đào tạo, dạy nghề cho lao động mất việc làm là hướng trọng điểm.Trước hết, cần chú trọng phát triển mở rộng dạy bổ túc văn hóa cho lao động trẻ, khỏe dưới 35 tuổi để họ có đủ trình độ vào các lớp đào tạo tập trung theo học những nghề mà khu công nghiệp, khu chế xuất… cần tuyển dụng.

Mô hình tạo việc làm thông qua du nhập ngành nghề thủ công và hình thành, phát triển làng nghề được các địa phương Hải Dương và Vĩnh Phúc, Hà Tây… rất chú trọng. Các nghề thu hút được nhiều người vào làm việc như: dệt chiếu, mây tre đan, gốm sứ, chế biến thực phẩm, sản xuất đồ gỗ, hàng thêu, thảm… Những nghề này thu nhập còn thấp nhưng dễ học và quy mô sản xuất có thể mở rộng, sản phẩm được mua, bán trao đổi với số lượng lớn trên thị trường trong nước và cả quốc tế, đem lại nguồn lợi cho người lao động và tăng thu nhập ngân sách địa phương.

Lao động nông thôn rất cần được đào tạo, dạy nghề, họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Vì vậy, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đầu tư giáo dục cho học sinh nông thôn ngay từ nhỏ là rất cần thiết. Các kiến thức thực tế phải luôn được cập nhật và tăng thời gian thực hành. Tiến tới phổ cập giáo dục ở bậc trung học cơ sở thay vì phổ cập ở cấp Tiểu học như hiện nay. Ngay từ thời học sinh các em cũng cần được biết đến Luật pháp, Luật lao động, quan hệ lao động, kỷ luật lao động, … là thế nào. Lao động trẻ nông thôn hiện nay không chỉ thiếu kiến thức chuyên môn mà kiến thức xã hội, giao tiếp cộng đồng, phát triển bản thân còn nhiều khiếm khuyết. Ở họ dạy nghề không thôi chưa đủ mà cần đưa cả kỹ năng sống vào chương trình giảng dạy, giúp họ có được tác phong làm việc nghiêm túc, tuân thủ kỷ luật lao động và có tinh thân đồng đội khi làm việc ở bất cứ môi trường nào, dù là làm công, tự làm hay làm cho gia đình.

Muốn vậy công tác giảng dạy, đào tạo luôn phải đổi mới, cập nhật và chuẩn hóa giáo trình cũng như đội ngũ giáo viên đồng thời bám sát nhu cầu thị trường chứ không dạy tràn lan, dẫn đến dư thừa cục bộ và gây lãng phí xã hội. Những năm gần đây, công tác dạy nghề đã có nhiều tiến triển, nhiều lao động đã ý thức được việc học nghề và số người tham gia các khóa đào tạo tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên mạng lưới dạy nghề vẫn chưa bao phủ được hết các địa phương cấp huyện và rất cần sự trợ giúp của các ngành, các cấp. Phấn đấu mỗi huyện có một cơ sở dạy nghề và được trang bị các thiết bị cần thiết phục vụ công tác đào tạo theo yêu cầu của xã hội.

Chương trình đầu tư cơ sở vật chất của Tổng cục dạy nghề còn đang tập trung cho các trường trọng điểm dạy nghề, chưa thể đồng loạt triển khai xuống hết các địa phương như mong muốn được. Mới đây chúng ta lại có chính sách và chương trình dạy nghề cho thanh niên nông thôn; dạy nghề và chuyển đổi nghề cho nông dân vùng mất đất và dân tộc thiểu số v.v., nhiều địa phương đã triển khai tốt việc này. Song một số nơi thực hiện chưa tốt. Nguyên nhân một phần do cán bộ địa phương chưa nắm rõ nhu cầu thực tế của đối tượng để áp dụng linh hoạt, cũng có thể do chương trình chưa bám sát nhu cầu thực tế của người muốn học và một phần do khả năng tiếp thu hạn chế của người được học.

Tình trạng này tiếp diễn sẽ hạn chế đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thích hợp vào phát triển sản xuất ở nông thôn. Vì vậy, rất cần những cán bộ kỹ thuật kiên trì bám sát cơ sở, hướng dẫn chỉ bảo kỹ thuật theo cách cầm tay chỉ việc và hướng dẫn đầu bờ trong thời gian dài, giúp họ tin tưởng và tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật đã được dạy, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số

2 – Thu hút lao động mất việc làm vào các khu công nghiệp, khu chế xuất và khuyến khích các hộ gia đình dành tiền nhận đền bù vào việc học nghề tạo việc làm

Việc thu hút lao động mất việc làm do bị thu hồi đất vào các khu công nghiệp phụ thuộc vào các quy định cụ thể ràng buộc với các chủ dự án sử dụng đất để họ cam kết sử dụng lao động tại chỗ. Các chính sách thu hút lao động vào khu công nghiệp cần được nhanh chóng sửa đổi cho phù hợp. Có cơ chế hỗ trợ cho các trung tâm dạy nghề tại địa phương để đào tạo nghề có địa chỉ và đạt chất lượng cao. Đối với các hộ bị thu hồi đất, tiền đền bù là tài sản quý giá nên cần phải được tuyên truyền, hướng dẫn họ sử dụng hợp lý. Chính quyền các cấp cần giúp đối tượng này lựa chọn ngành nghề đào tạo mà các khu công nghiệp đang cần tuyển dụng lao động. Cùng với hỗ trợ tiền đào tạo từ ngân sách địa phương, nên khuyến khích các hộ sử dụng tiền được đền bù để cho con em họ, học nghề, học ngoại ngữ… và tạo điều kiện cho họ đi lao động xuất khẩu, khuyến khích lao động xuất khẩu gửi tiền về đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tạo việc làm.

3 – Với đối tượng người lao động tuổi từ trên 35, khó có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất, Nhà nước cần có chính sách dành cấp một phần đất trong hoặc sát với khu công nghiệp để tổ chức các hoạt động dịch vụ

Biện pháp này nếu được triển khai có hiệu quả sẽ tạo ra hệ thống dịch vụ mới như xây nhà cho thuê, bán hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ ăn uống, sửa chữa phương tiện xe đạp, xe máy… tăng mức thu nhập của người dân có đất bị thu hồi. Số liệu điều tra tại các địa phương được nghiên cứu cho thấy, có 65,7% số người được hỏi đã ủng hộ việc dùng một phần đất dự án để phát triển dịch vụ và 58,3% số người ủng hộ việc dùng tầng trệt nhà chung cư dành cho dân thuê mặt bằng kinh doanh.

4 – Hỗ trợ lao động đi tìm việc làm

Chính sách ưu tiên giới thiệu, tư vấn việc làm miễn phí, thông qua hội chợ việc làm, hỗ trợ tìm việc cũng là một hướng mở tích cực tạo ra cơ hội có việc làm cho lao động. Kinh nghiệm ở Hải Dương và Vĩnh Phúc và một số tỉnh khác là thành lập tổ công tác phối hợp với chính quyền để cùng các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp, các đơn vị xuất khẩu lao động có uy tín mở hội nghị chuyên đề về đào tạo và giải quyết việc làm, xúc tiến xây dựng các đề án kinh tế dài hạn có tính khả thi cho hộ gia đình có đất bị thu hồi. Các xã, thôn bị thu hồi từ 40% – 50% diện tích trở lên thì địa phương hỗ trợ thực hiện quy hoạch lại nông thôn. Cấp đất kinh doanh dịch vụ và kết hợp huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện các hộ bị thu hồi đất tổ chức lại chỗ ở và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

5 – Xây dựng, triển khai quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng mạng lưới đào tạo nghề tại địa phương vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất gắn với giải quyết việc làm cho lao động mất việc làm

Khi xây dựng, triển khai quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương có chuyển đổi mục đích sử dụng đất cần chú trọng các nội dung thiết thực là: xác định số lượng lao động bị mất việc làm, khả năng sử dụng lao động của ngành tại địa phương, nắm bắt tiêu chí tuyển lao động ở các khu công nghiệp về trình độ chuyên môn kỹ thuật, loại hình nghề nghiệp, sức khỏe và giới tính cần tuyển dụng từ đó đặt ra yêu cầu về tài chính từ ngân sách địa phương hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề cho lao động mất việc làm.

Mạng lưới đào tạo nghề phải được phân bố đều, thủ tục hành chính thuận lợi. Cơ sở đào tạo nghề phải đáp ứng được qui mô đào tạo, loại hình chất lượng nghề đào tạo để sau khi tốt nghiệp, học viên có thể tìm được việc làm ngay trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng cách thu hút đội ngũ các nhà chuyên môn – kỹ thuật, nhà khoa học của các trường, viện nghiên cứu, trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ… đóng trên địa bàn để mời tham gia đào tạo nhân lực lao động chất lượng cao.

Ngoài việc thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo mới cần phải hình thành cơ chế, hình thức thích hợp đào tạo lại, đào tạo nâng cao kiến thức, tay nghề thường xuyên cho người lao động. Mạng lưới đào tạo lại, đào tạo nâng cao phải đáp ứng phổ biến, thuận lợi cho nhu cầu của tất cả những người lao động có thể tham gia học tâp. Đào tạo lại, đào tạo nâng cao phải bao trùm ở tất cả các cấp trình độ: trên đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và sơ cấp, công nhân kỹ thuật.

Lập quỹ đào tạo nghề, thực hiện xã hội hóa việc huy động các nguồn quỹ từ: ngân sách nhà nước trung ương và địa phương, đóng góp của các doanh nghiệp, đóng góp của các chủ dự án sử dụng đất và sự đóng góp của các tổ chức xã hội, Hiệp hội nghề nghiệp, của Chính phủ và tổ chức quốc tế…

6. Quan tâm tới môi trường làm việc

Môi trường và điều kiện làm việc hiện nay của lao động nông nghiệp nông thôn hiện nay đang là vấn đề cần phải bàn đến. Đã có nhiều lao động bị bệnh nghề nghiệp, nhiều người bị tai nạn lao động từ môi trường và điều kiện làm việc này bởi vi phạm vệ sinh an toàn. Ô nhiễm môi trường không chỉ chỉ xảy ra ngay tại cánh dồng canh tác mà ngay tại khu vực dân cư và người tiêu dùng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, đặc biệt sức khỏe sinh sản -một yếu tố quan trọng cho tái sản xuất sức lao động và một nhân tố tạo nên chất lượng dân số cho đất nước, xã hội. Nông dân là người chịu hậu quả trước tiên, vì vậy, công tác tuyên truyên, giáo dục và phổ biến kiến thức an toàn vệ sinh đối với người lao động nông nghiệp là hết sức cần thiêt. Các cơ quan và những người có trách nhiệm cần giám sát và xử lý thích đáng các trường hợp vi phạm, trước hết là an toàn cho người lao động và người tiêu dùng, tiếp đến là làm cho môi trường sống trở lên thân thiện và chất lượng cuộc sống được cải thiện.

7. Phát triển các loại hình kinh tế

Về cầu lao động, để nông thôn thực sự phát triển bền vững theo hướng CNH-HĐH, trước hết phải phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có làng nghề và kinh tế trang trại, nơi tạo ra thu nhập cao và ổn định hơn. Thực tê cho thấy các loại hình kinh tế này có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tốt hơn và có tiềm lực kinh tế để sẵn sàng đầu tư khi cần thiêt. Kinh tế trang trại có khả năng làm tăng giá trị sản phẩm theo hướng xuất khẩu và hình thành các thị trường nông sản ngay tại địa phương.

Ngoài ra, kinh tế trang trại còn góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái và điều hòa khí hậu trong vùng-một trong các chỉ tiêu quan trọng trong phát triển bền vững. Xét cho cùng, phát triển nông thôn bền vững thì phải chuyển dịch kinh tế, theo đó là chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp và dịch vụ, hướng người lao động đến những việc làm ở những ngành nghề, công việc đem lại giá trị cao trong các chuỗi giá trị, với điều kiện lao động phải có hiểu biết, có kỹ năng chuyên môn để dần thay thế khu vực kinh tế nông nghiệp kém hiệu quả bằng khu vực kinh tế có giá trị cao hơn, thông qua đó mà nâng cao đời sống và thu nhập của người lao động. Thời gian tới cần đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa và phát triển mạnh các khu kinh tế vệ tinh và các làng nghề nhằm thu hút lao động nông thôn tại chỗ, tạo sự liên kết kinh tế giữa các khu công nghiệp với nông thôn, giữa sản xuất công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ, đặc biệt khai thác mỗi liên kết kinh tế giữa các thành phố lớn với các khu vực phụ cận.

Chính sách khuyến công, khuyến nông đang được triển khai thực hiện song cần đầu tư nhiều hơn cả về cán bộ kỹ thuật lẫn đầu tư vật chất để công tác chuyển giao kỹ thuật tới người nông dân đạt hiệu quả cao nhất. bên cạnh đó, cần có chính sách qui hoạch hợp lý về cây, con giống và tạo được các thị trường nông sản hàng hóa có giá trị trên khắp khu vực nông thôn. Đối với vùng sâu, vùng xa Nhà nước nên có chính sách thu mua hợp lý, tránh tình trạng thay đổi cây trồng, vật nuôi một cách tự phát, ảnh hưởng trực tiêp tới đời sống của người lao động. Đặc biệt, đối với thị trường cây công nghiệp và cây ăn quả thất thường như cà phê, hồ tiêu, vải, … Thay đổi các loại cây trồng không nằm trong qui hoạch sẽ làm tổn thất vốn liếng đầu tư, vừa làm thị trường bất ổn và gây méo mó về giá cả.

Kinh tế Việt nam phát triển theo hướng kinh tế thị trường, các sản phẩm đưa ra đều phải có khả năng cạnh tranh thì mới có chỗ đứng trong thị trường. Sản phẩm nông nghiệp không phải là ngoại lệ, nó cần được nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị của sản phẩm, bên cạnh đó các TT hàng hóa, TT đất đai, TT vốn, TT lao động và TT tín dụng cần phát triển đồng bộ. Các thị trường này một mặt phải hoà nhập với thị trường trong nước, mặt khác phải hướng vào xuất khẩu để hoà nhập với thị trường ngoài nước (đặc biệt là thị trường hàng hoá). Thiếu một trong các thị trường này kinh tế nông thôn phát triển sẽ kém hiệu quả, ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu lao động.

CNH nông thôn là chủ trương xây dựng nông thôn Việt nam phát triển bền vững và thu hẹp khoảng cách khác biệt giữa nông thôn-thành thị. Vì vậy, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lao động nông thôn, tạo cơ hội để người lao động tiếp cận được  thị trường và có việc làm bền vững, tăng thu nhập cũng là một trong các cách góp phần làm cho nông thôn ngày càng đổi mới và phát triển.