Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ AFTA

 

Để tham gia hợp tác ASEAN và AFTA có hiệu quả đồng thời giữ vững được định hướng phát triển kinh tế, Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục phát hiện và hệ thống hoá những điểm khác biệt về cơ cấu, chính sách kinh tế, thủ tục hành chính trong nước so với nhu cầu thực hiện các chương trình hợp tác của ASEAN. Đây là cơ sở để xem xét, điều chỉnh, bổ sung một cách khoa học nhằm tạo môi trường pháp lý và điều kiện thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính và cải cách kinh tế của Việt Nam theo các phương hướng đã lựa chọn. Ngoài việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ, có hệ thống phục vụ bộ máy làm công tác ASEAN ở tất cả các bộ, ngành, cần phổ biến rộng rãi các thông tin về ASEAN, về các nước thành viên ASEAN nhằm giúp các tầng lớp nhân dân có nhận thức đúng đắn về đường lối hội nhập thế giới và khu vực của đất nước, trên cơ sở đó có thể tập hợp được những ý kiến đóng góp quý báu góp phần vào việc đề ra chính sách, giải pháp cụ thể nhằm tham gia có hiệu quả hơn vào hoạt động của ASEAN.

1. Giải pháp vĩ mô

1.1. Những ý kiến đóng góp lên chính phủ

Trong quá trình thực hiện AFTA, Nhà nước với trách nhiệm quản lý vĩ mô nền kinh tế, có nhiệm vụ đề ra những chính sách phát triển kinh tế thích hợp khi chúng ta tham gia vào quá trình hội nhập thể hiện ở những định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực cần được ưu tiên phát triển trước mắt và lâu dài, các biện pháp hỗ trợ ưu tiên phát triển, các biện pháp bảo hộ thông qua các chính sách cụ thể như chính sách đầu tư, chính sách thương mại, chính sách thuế,..

Đầu tư vốn để đổi mới công nghệ, đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng với chất lượng cao đủ sức cạnh tranh với hàng của ASEAN là một biện pháp mang tính quyết định. Do đó các hình thức đầu tư vốn cho các ngành sản xuất những mặt hàng xuất khẩu nói trên cần phải ở mức ưu đãi nhất. Bên cạnh đó, để các nguồn vốn được phân bổ có hiệu quả và năng động, cần mở rộng việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước theo chương trình của Chính phủ, từng bước phát triển thị trường vốn dài hạn, phát triển thị trường chứng khoán.

Đối với đầu tư nước ngoài trực tiếp, phù hợp với các ngành sản xuất hàng xuất khẩu được xác định, Chính phủ Việt Nam cần công bố danh mục lĩnh vực ưu tiên đầu tư và sửa đổi các thủ tục xét duyệt và cho phép đầu tư nước ngoài được nhanh chóng và thuận lợi nhất. Mục tiêu của AFTA là thu hút đầu tư trong khối và ngoài khối, nhưng khả năng đầu tư giữa các nước ASEAN còn hạn chế, đặc biệt đối với những lĩnh vực công nghệ cao. Vì thế thu hút đầu tư từ những nước ngoài khối sẽ là chủ yếu.

Để có thể tận dụng được các lợi thế so sánh của đất nước và thị trường được các ưu đãi của AFTA về khả năng tăng xuất khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Chính phủ Việt Nam cần có một định hướng chiến lược phát triển các ngành kinh tế phù hợp với xu thế hội nhập của khu vực và thế giới. Chính sự hội nhập này là một nhân tố quan trọng tạo ra sức bật mới cho cả nền kinh tế. Định hướng chiến lược phát triển các ngành kinh tế này phải là định hướng phát triển các ngành kinh tế hướng về xuất khẩu. Tất cả các biện pháp vĩ mô như thuế, thương mại, tài chính… cần được thay đổi nhằm đảm bảo cho việc thực hiện thành công định hướng chiến lược này. Cụ thể là Chính phủ sẽ xác định ngành nào sẽ là ngành tạo ra được những mặt hàng có khả năng cạnh tranh được với các nước ASEAN và tập trung cho sự phát triển những ngành đó. Điểm đặc biệt đáng lưu ý là, do cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam gần giống với các nước ASEAN, Việt Nam chỉ có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh nếu đạt được các ưu thế về chất lượng và giá cả.

Hàng năm Chính phủ Việt Nam đều ban hành Nghị định công bố danh mục thực hiện AFTA cho năm đó. Năm 1997, Chính phủ Việt Nam cũng đã phê duyệt Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể thực hiện AFTA giai đoạn 1996-2006 của Việt Nam để làm căn cứ điều chỉnh cơ cấu trong nước và định hướng cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp.

Đến thời điểm 31/12/2000, Việt Nam đã chuyển trên 4200 dòng thuế vào thực hiện AFTA và dự kiến sẽ chuyển tiếp khoảng 1940 dòng thuế còn lại trong Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) vào thực hiện cắt giảm trong 3 năm 2001-2003 và đén năm 2006 sẽ cắt giảm thuế suất nhập khẩu của toàn bộ các dòng thuế thực hiện AFTA xuống mức 0-5%.

Một yếu tố khác thu hút đầu tư của nước ngoài và trong nước là cải thiện cơ sở hạ tầng hơn nữa, bao gồm việc phát triển năng lượng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cải tiến công tác tài chính ngân hàng, tín dụng. Đây là những vấn đề lớn có ý nghĩa chung cả nước.

Hiện nay, Chính phủ đã có chỉ đạo triển khai một số công việc trọng tâm sau đây:

–       Xây dựng chiến lược đầu tư, chiến lược xuất khẩu để làm định hướng phát triển và chuẩn bị hội nhập.

–       Hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, nâng cao khả năng cạnh tranh.

–       Phát triển hệ thống dịch vụ, cơ sở hạ tầng để tạo môi trường thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại.

–       Khoa học và công nghệ chính là động lực, nền tảng trong phát triển kinh tế – xã hội, nên cần được coi là then chốt là quốc sách hàng đầu và có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp về khoa học và công nghệ đúng đắn.

–       Đối với những ngành công nghiệp quan trọng có tính chất xương sống hoặc mũi nhọn của nền kinh tế, cần có sự quan tâm của Nhà nước, của các Bộ trên các mặt định hướng phát triển, hỗ trợ nguồn vốn, tìm kiếm thị trường và các điều kiện kinh doanh thuận lợi để nó có thể góp phần thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển và cạnh tranh được với các nền công nghiệp khác trong khu vực

Tình trạng chậm được cải thiện nên đã ảnh hưởng rất mạnh đến chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới.

–   Chú trọng nhập khẩu công nghệ đòi hỏi suất đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh, có khả năng tạo thêm nhiều chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp. Việc hiện đại hoá công nghệ là cần thiết nhưng phải lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để lựa chọn.

–   Đòi hỏi phải nhập khẩu thiết bị tiên tiến và hiện đại cho mọi ngành sản xuất, bất kể hiệu quả, bất kể khả năng quản lý và vận hành của cơ sở sử dụng thiết bị thực chất là một sự lãng phí không kém gì nhập khẩu thiết bị lạc hậu.

–   Các loại thiết bị công nghệ cao thường sử dụng ít hoặc rất ít lao động. Trong một số trường hợp, việc nhập khẩu các loại thiết bị này sẽ không giúp ích nhiều cho việc tạo công ăn việc làm và tận dụng thế mạnh lao động rẻ để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Giá thiết bị cao còn làm tăng giá thành sản phẩm và làm suy yếu khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Vì lý do đó, việc nhập khẩu thiết bị tiên tiến cần được tính toán kỹ về mặt hiệu quả, tập trung cho một số ngành then chốt như năng lượng, tin học, điện tử, viễn thông, công nghệ sinh học và vật liệu mới nhằm kiến tạo một cơ sở hạ tầng vững chắc và góp phần đẩy nhanh quá trình tạo ra các mặt hàng mới cho xuất khẩu. Trong những ngành còn lại, cần biết tận dụng các loại công nghệ có trình độ vừa phải, sử dụng nhiều lao động, vừa phù hợp với trình độ phát triển của ta, vừa đáp ứng nhu cầu chế biến nguyên liệu thô. Nếu có khó khăn về vốn đầu tư trong khi việc nâng cấp thiết bị là cần thiết thì nên tập trung vào những khâu quyết định chất lượng sản phẩm.

–   Một phần vốn đầu tư cho khoa học công nghệ nên được dành để thành lập Ngân hàng dữ liệu nhằm cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin cập nhật nhất về lĩnh vực công nghệ mà họ quan tâm. Việc này đã được làm nhưng quy mô còn rất nhỏ, lại thiếu quảng cáo nên rất ít doanh nghiệp biết về sự tồn tại của một trung tâm như vậy. Tới đây nên tiến hành đầu tư một cách bài bản hơn cho lĩnh vực này, đồng thời tăng cường phổ biến đến các doanh nhân để họ biết và có điều kiện tham khảo dữ liệu trước khi ra quyết định đầu tư. Tạo lập thị trường công nghệ để các sản phẩm khoa học công nghệ được trả giá đúng mức và lưu thông bình thường như một dạng hàng hoá đặc biệt. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy các nghiên cứu khoa học gắn bó hơn với tiến trình phát triển, đồng thời rút ngắn được khoảng thời gian giữa nghiên cứu và ứng dụng. Để tạo lập thị trường công nghệ, nên khuyến khích việc ký hợp đồng giữa các doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu khoa học bằng cách thiết lập Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển công nghệ Quốc gia. Quỹ này sẽ cho các doanh nghiệp vay trong trường hợp họ có nhu cầu đặt hàng với các viện nghiên cứu. Làm như vậy vừa gắn được nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của sản xuất, vừa tạo điều kiện cho các nhà khoa học giỏi phát huy tài năng, vừa không phí phạm nguồn vốn ít ỏi của ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, cần thi hành nghiêm túc các quy định của luật pháp về bảo hộ quyền sở hữu công nghệ cũng là biện pháp quan trọng khuyến khích đầu tư nghiên cứu khoa học phục vụ cho công cuộc đổi mới và cải tiến công nghệ.

Một vấn đề nữa mà chúng ta cần đề cập ở đây đó là, để đảm bảo được yêu cầu sản xuất xuất khẩu thì hàng hoá của Việt Nam cần được tuân thủ những tiêu chuẩn đã được quy ước có tính chất quốc tế, đó là phải có những tiêu chuẩn phù hợp với ISO. Là một nền kinh tế mới bước vào thời kỳ đang phát triển, Việt Nam cần nhiều thời gian hơn để công bố các tiêu chuẩn quốc tế và sửa đổi những tiêu chuẩn của mình cũng như chuẩn bị nền tảng cơ sở vật chất và kỹ thuật để áp dụng các biện pháp kỹ thuật liên quan đến thương mại. Một số mặt hàng của Việt Nam đã và đang gấp rút hoàn thành các thủ tục để nhận chứng chỉ chất lượng ISO. Có được những chứng chỉ chất lượng này, hàng hoá của Việt Nam sẽ dễ dàng thâm nhập vào thị trường khu vực và quốc tế hơn, một cách bài bản hơn theo những tiêu chuẩn mà đã được thế giới công nhận.

1.2. . Những ý kiến đóng góp lên các bô ngành chủ quản

Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Bộ Thương mại và các Bộ, ngành chủ quản là cơ quan có trách nhiệm cung cấp, hướng dẫn các doanh nghiệp phân tích, sử dụng các thông tin, tư liệu liên quan tới những giải pháp đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết của Việt Nam khi tham gia AFTA.

Các bộ ngành và đơn vị hữu quan cần tổ chức nghiên cứu cụ thể tác động của AFTA đối với từng ngành và khu vực kinh tế, đánh giá lượng hoá các tác động và đề xuất biện pháp cụ thể đối với ngành của mình. Xây dựng các đề án phát triển các sản phẩm của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

Mặt khác, cần có kế hoạch đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế so sánh của ta về sức lao động, đất đai, tài nguyên…, tận dụng các nguyên tắc của các tổ chức quốc tế về quyền tự về, về ưu đãi cho các nước đang phát triển và chậm phát triển. Đây chính là những lợi thế giúp ta tìm lời giải thích hợp cho những thách thức nói trên. Vấn đề quan trọng đặt ra là sự tính toán, vận dụng khéo léo các nguyên tắc của các tổ chức quốc tế đó vào hoàn cảnh Việt Nam, đảm bảo cho chính sách vừa phù hợp với quốc tế, vừa bảo hộ và kích thích sự phát triển của các ngành sản xuất và của từng doanh nghiệp.

Trước hết là cần phát triển các ngành công nghiệp hướng ra xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Cơ cấu công nghiệp phải nhanh chóng chuyển dịch sao cho những nhóm mặt hàng ưu đãi thuế quan chỉ chiếm tỉ trọng không đáng kể trong khối lượng nhập khẩu. Có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu và làm công nghiệp hướng ra xuất khẩu.

–   Bộ Thương mại là cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm đầu mối trong quan hệ hợp tác kinh tế trong AFTA và ASEAN có nhiệm vụ phổ biến kiến thức về AFTA tới các doanh nghiệp.

–       Bộ Công nghiệp sẽ dành một phần lực lượng tham gia vào nhiệm vụ trao đổi thông tin, nghiên cứu hội thảo khoa học, đào tạo bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ các loại trong ngành, kể cả ở trung ương và địa phương, đồng thời cũng đề nghị các cơ quan Nhà nước quan tâm nhiều hơn đến đào tạo và tuyển chọn cán bộ có chất lượng cao trong giai đoạn tới, cả năng lực và phẩm chất để có thể làm tròn nhiệm vụ được giao phó. Toàn ngành công nghiệp Việt Nam quyết tâm phấn đấu từ nay đến năm 2000 tăng giá trị tổng sản lượng hàng năm 15% và tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm 25%, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

–       Cơ quan Hải quan Việt Nam tham gia với các nước ASEAN khác, trong việc điều hoà thống nhất danh mục biểu thuế quan giữa các nước thành viên AFTA, thống nhất hệ thống xác định trị giá để tính thuế, thống nhất hệ thống xác định trị giá để tính thuế, thống nhất quy trình thủ tục Hải quan, nhanh chóng hoàn thành thủ tục Hải quan cho các sản phẩm của CEPT, lập mẫu tờ khai Hải quan chung. Vì sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước khác về danh mục biểu thuế, quy trình thủ tục hải quan… sẽ gặp nhiều khó khăn khi tiến hành việc điều hoà thống nhất nói trên. Bởi vậy, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa Hải quan với các cơ quan chức năng và các cơ quan hữu quan khác trong công việc trên.

Sớm thành lập bổ xung các thiết chế và ban hành bổ xung các chính sách hỗ trợ kinh doanh phù hợp với các định chế chung như xúc tiến thương mại, hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng (R &D) trong những lĩnh vực chọn lọc, hỗ trợ tạo việc làm mới, hỗ trợ đào tạo lại, hỗ trợ các hoạt động xúc tiến sản phẩm sản xuất tại Việt Nam… Nghiên cứu thành lập và thúc đẩy sự hoạt động của các hệ thống quản lý chất lượng, vệ sinh và an toàn tiêu dùng cả với mọi loại hàng hoá tiêu dùng trong nước nói chung và hàng nhập khẩu nói riêng.

Vai trò của Chính phủ trong quá trình này là đảm bảo rằng môi trường kinh tế tổng thể không bị bóp méo và rằng những hàng hoá công cộng (như hạ tầng cơ sở) luôn sẵn sàng để các doanh nghiệp khai thác, ở Việt Nam, gần một nửa doanh nghiệp – tính theo trên giá trị sản lượng công nghiệp – là các doanh nghiệp nhà nước (48,3%). Các doanh nghiệp phi quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 23,2% và 28,5%.

Để đối chọi với thách thức của một nền kinh tế mở đặc biệt là khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do AFTA, các doanh nghiệp không chỉ cần hoạt động có hiệu quả mà họ phải thích ứng và phản ứng nhanh nhạy với những biến động liên tục. Nói chung các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu quả và thụ động, việc mở cửa thị trường theo các yêu cầu của AFTA sẽ đặt các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam vào tình thế khó khăn. Chính vì vậy, sau khi giảm số doanh nghiệp nhà nước khoảng 50% xuống còn 6.000 doanh nghiệp, Chính phủ bắt đầu chương trình cổ phần hoá và sẽ tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá trong thời gian tới.

1.3. . Những ý kiến đóng góp lên Bộ Tài chính

Việc cần làm đầu tiên là phải sớm xây dựng và hoàn tất lộ trình tổng thể thực hiện CEPT – AFTA cả thuế và phi thuế đến 2006 để kịp thời công bố cho các ngành, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, để họ chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh sản xuất và đầu tư, với mục tiêu nhằm nâng cao tính cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế khu vực và quốc tế đang trong quá trình toàn cầu hoá. Công bố rõ lộ trình thực hiện, khuyến khích doanh nghiệp có tích luỹ trong thời gian còn được bảo hộ trực tiếp nên tập trung mở rộng và nâng cao năng lực cạnh tranh và thích hợp với mức bảo hộ giảm dần. Song song với việc đó, việc tăng cường phổ biến kiến thức về AFTA cả về chiều sâu và chiều rộng là vấn đề vô cùng quan trọng.

Nâng cấp hệ thống chính sách và năng lực thực thi chính sách thuế sao cho mọi hoạt động kinh doanh, mọi khoản thu nhập của doanh nghiệp, của cá nhân dưới mọi hình thức đều chịu một mức thuế ngang nhau, hạn chế trốn thuế và đảm bảo nguồn thu Nhà nước.

Về mặt đối ngoại, theo tinh thần CEPT năm 2001, tất cả các mặt hàng đã đưa vào cắt giảm của Việt Nam có thuế suất CEPT cao hơn 20% đều phải đưa xuống bằng hoặc thấp hơn 20%. Từ các năm sau đó, mức thuế suất thực hiện CEPT của những mặt hàng bắt đầu được chuyển vào thực hiện cắt giảm cũng không được cao hơn 20%. Theo đó, Việt Nam sẽ vấp phải không ít khó khăn, trở ngại. Vì vậy, Bộ Tài chính đã có dự kiến tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế của các bộ, ngành đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua, kết hợp với việc phân tích về chiến lược kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN để lựa chọn những mặt hàng thật sự cần thiết, duy trì những mặt hàng có thuế suất cao và không chịu quản lý bằng các biện pháp phi thuế quan vào thực hiện cắt giảm trước, đảm bảo thực hiện đúng cam kết mà vẫn giữ được thế chủ động cho các doanh nghiệp trong nước.

Bộ Tài chính đã có kế hoạch tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Cụ thể là trên cơ sở nhiệm vụ phát triển kinh tế của các bộ, ngành sẽ được Thủ tướng Chính phủ thông qua, kết hợp với việc phân tích về kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN để lựa chọn những mặt hàng thực sự cần thiết duy trì mức thuế suất và đưa vào cắt 3/4 thuế giảm muộn.

Xây dựng chiến lược tài chính quốc gia theo hướng tạo dựng một môi trường tài chính lành mạnh, ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

–       Sẽ nghiên cứu giải pháp để thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước (cơ cấu lại nợ, xắp xếp doanh nghiệp, xử lý vốn).

–       Nghiên cứu cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng bảo hộ có điều kiện và có thời hạn, tạo môi trườngtài chính lành mạnh, bình đẳng (cả trong và ngoài quốc doanh).

–       Sử dụng có hiệu quả một số công cụ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ bảo lãnh tín dụngcác doanh nghiệp vừa và nhỏ, quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ đầu tư địa phương, thị trường chứng khoán, quỹ xắp xếp cổ phần hoá doanh nghiệp.

–       Hoàn thiện hệ thống tài chính:

+ Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế (đặc biệt là thuế VAT) theo hướng đơn giản, rõ ràng, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển.

+ Xây dựng Luật kế toán- kiểm toán

+ Hướng dẫn Luật kinh doanh bảo hiểm

+ Phối hợp với các bộ ngành liên quan xây dựng hệ thống luật pháp chống gian lận thương mại, chống bán phá giá, chống cạnh tranh không lành mạnh.

–       Nâng cao năng lực hệ thống tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp có hiệu quả hơn:

+ Cải cách công tác quản lý thuế theo hướng đơn giản thủ tục, thông thoáng.

+ Có giải pháp để phát triển các dịnh vụ tài chính như bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và tư vấn thuế để môi trường tài chính lành mạnh, rõ ràng, thúc đẩy đầu tư và thương mại.

–   Đơn giản hơn nữa các mức thuế suất, nên cách nhau xa hơn, giảm số lượng mặt hàng được hưởng thuế suất 0% để đảm bảo nguồn thu ngân sách. Không nên căn cứ vào mục tiêu sử dụng để định thuế suất mà nên căn cứ vào tính chất của hàng hoá, để ngăn chặn hành vi trốn thuế cùng với việc điều hoà thống nhất hệ thống xác định giá trị tính thuế quan theo yêu cầu của CEPT, sẽ áp dụng giá tính thuế hàng nhập khẩu theo nguyên tắc của GATT. Theo bản thỏa thuận định giá của GATT, giá tính thuế nhập khẩu chủ yếu dựa vào giá kinh doanh của hàng hóa tương đương hoặc giống hệt.

Do đó, cần có sự sửa đổi cơ bản về thuế nhập khẩu. Mức thuế nhập khẩu có thể hạ thấp phù hợp với yêu cầu của CEPT và có thể hạ đến mức thấp nhất để đáp ứng yêu cầu khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu. Còn các mức thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu không phải chịu cam kết giảm thuế sẽ được điều chỉnh phù hợp, đáp ứng được yêu cầu bảo hộ gián tiếp và đảm bảo cho nguồn thu ngân sách. Hơn nữa, để đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) mức thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng cho hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước là như nhau, nếu có khác nhau về hỗ trợ sản xuất trong nước chỉ là khác về quy định giá tính thuế giữa sản phẩm nhập khẩu và sản xuất trong nước.

Trong thời gian đầu, ích lợi cho việc tham gia AFTA đối với Việt Nam chưa nhiều vì kim ngạch ngoại thương giữa Việt Nam với các nước ASEAN chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ: tỷ lệ xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN-4 năm 1994 chỉ là 5% và nhập khẩu là 8% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Nếu tính cả Singapore là nước trung chuyển mậu dịch thì chỉ tiêu trên cũng chỉ là 20,4% và 30%. Bởi vậy, để hội nhập vào AFTA, do tình hình đặc thù của Việt Nam, chúng ta sẽ không áp dụng tiến trình cắt giảm thuế nhanh để có thời gian rút kinh nghiệm thực hiện chương trình CEPT và cho các doanh nghiệp trong nước có thể thích ứng dần. Nhưng vì Việt Nam có tới 53,1% số mặt hàng có thuế suất dưới 5%, tức là đã thoả mãn mục tiêu của CEPT nên có thể coi như đã thực hiện tiến trình cắt giảm nhanh.

2. Giải pháp vi mô – Về phía doanh nghiệp

Mỗi đơn vị, doanh nghiệp dù lớn dù nhỏ cần lập ngay bộ phận chuyên trách, thu thập nghiên cứu các tài liệu thông tin liên quan tới AFTA để vận dụng các cam kết quốc tế vào chương trình hành động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Hội nhập là tất yếu để phát triển. Việc thực hiện lịch trình cắt giảm thuế quan trong ASEAN, hiệp định thương mại Việt Mỹ và trong tương lai khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – WTO là một khâu quan trọng để thực hiện việc tự do hoá thương mại mở cửa hội nhập. Trong đó, doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng, đảm bảo sự thành công của hội nhập. Vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức để nâng cao vị thế cạnh tranh của hàng hoá và uy tín của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tác động hai mặt của việc xoá bỏ hàng rào bảo hộ mậu dịch đối với các doanh nghiệp tuy dễ thấy về định tính, song khó dự báo định lượng. Xoá bỏ bảo hộ có thể buộc doanh nghiệp phải cải tổ toàn diện để đối đầu trực diện với sức ép cạnh tranh từ các nước AFTA. Cạnh tranh có thể thúc đẩy sản xuất phát triển, nhưng đồng thời cũng có thể làm phá sản hàng loạt doanh nghiệp, thậm chí hàng loạt ngành. Như vậy, xoá bỏ bảo hộ chắc chắn dẫn đến việc thay đổi cơ cấu kinh tế.

2.1 . Cần có chiến lược dài hạn và cụ thể, thiết thực

Trong quá trình hội nhập kinh tế vươn ra thị trường quốc tế và khu vực, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi. Sự thành công tới đâu trong quá trình này là tuỳ thuộc vào sức cạnh tranh, tính năng động sáng tạo của các doanh nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp phải thực sự vào cuộc, vì sự sống còn của mình. Tư tưởng bảo hộ trông chờ vào Nhà nước hỗ trợ tất yếu sẽ dẫn tới sự đào thải. Trong quá trình cạnh tranh vươn lên này Nhà nước sẽ hỗ trợ thích đáng cho các doanh nghiệp, nhưng sự hỗ trợ đó là có chọn lọc, có điều kiện, có thời gian. Như vậy con đường tất yếu cho các doanh nghiệp là: Kết hợp chặt chẽ sản xuất với kinh doanh. Mỗi đơn vị cần có chiến lược riêng cho đơn vị mình. Một mặt quy hoạch sản xuất, điều chỉnh cơ cấu, ưu tiên tập trung nỗ lực đầu tư cho sản xuất các mặt hàng chủ lực có thế mạnh, có khả năng cạnh tranh của đơn vị, của địa phương mình, lấy thị trường làm kim chỉ nam định hướng cho sản xuất. Không nên giàn trải, cần chuyên sâu theo thế mạnh. Một mặt cần đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh hợp tác quốc tế, khai thác lợi thế từ các cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại khuyếch trương đầu tư. Hạch toán chặt chẽ giữa sản xuất và kinh doanh tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước. Xem thị trường trong nước là hậu thuẫn, là thế mạnh cho việc thâm nhập thị trường nước ngoài. Chiến lược hai trọng điểm sản xuất và kinh doanh tiêu thụ là đòi hỏi rất thực tiễn đảm bảo thắng lợi cho mỗi doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Thị trường mà chúng ta cần xem xét là thị trường hướng ngoại, nhưng hiện tại chỉ khoảng hơn 20% giá trị sản phẩm công nghiệp được xuất ra thị trường nước ngoài. Hướng ngoại phải là chiến lược lâu dài, bởi sức mua trong nước thấp, tuy dân số là 80 triệu người. Nói vậy, không có nghĩa là chúng ta có thể quên thị trường trong nước, mà ở đây, đúng ra, có thứ chúng ta phải giành dật lấy, đặc biệt là những hàng hoá nước ngoài đang chiếm lĩnh: hàng dệt may, hoá mỹ phẩm, điện tử, điện dân dụng, cơ khí tiêu dùng, gốm sứ…

Những tồn tại trên, thực sự là những trở ngại phải vượt qua trên con đường phát triển ngành công nghiệp với tốc độ 14 -15%/năm từ nay đến năm 2000. Đặc biệt là vấn đề hội nhập ASEAN, và tham gia AFTA

2.2 . Khẩn trương sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với cam kết hội nhập khu vực và quốc tế, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh

Sắp xếp lại sản xuất và cơ cấu lại nền công nghiệp đi đôi với việc đổi mới doanh nghiệp trên các mặt công nghệ và quản lý. Thực hiện cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu tại những doanh nghiệp có đủ điều kiện và theo sự chỉ đạo của Nhà nước.

Cùng với cắt giảm bảo hộ mậu dịch trong khuôn khổ AFTA, còn cần phải tính toán xa hơn, đến phương hướng chuyên môn hoá sản xuất trong phạm vi ASEAN. Do cơ cấu giữa Việt Nam và các nước ASEAN có một số điểm tương đồng, nên càng sớm xác định được phương hướng chuyên môn hoá và liên kết quốc tế của các ngành sản xuất, nhất là sản xuất công nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế hoàn toàn không còn hàng rào bảo hộ ngăn với các nước trong khu vực, thì sẽ có thể tránh được những cuộc cạnh tranh không cần thiết, khai thác những lợi ích của hợp tác và chuyên môn hoá sản xuất, rút ngắn được những khúc quanh co trong con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá sắp tới.

Đối với những mặt hàng ưu tiên đưa vào những mặt hàng có thuế suất cao và không chịu quản lý bằng các biện pháp phi thuế quan vào thực hiện cắt giảm trước, bảo đảm thực hiện đúng cam kết mà vẫn giữ được thế chủ động cho doanh nghiệp trong nước. Song có lẽ giải pháp quan trọng nhất vẫn là từ chính các doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải tự sắp xếp, đổi mới công nghệ, trình độ quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh… để tham gia hội nhập khu vực và quốc tế.

 2.3. Có giải pháp xử lý nợ

Việc huy động các nguồn vốn phải thực hiện bằng nhiều biện pháp, không những chỉ dưới dạng đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), hay các nguồn viện trợ phát triển chinh thức (ODA)… mà còn phải coi trọng việc huy động các nguồn vốn tiềm tàng trong nhân dân. Nguồn vốn này không phải là nhỏ, nhưng tâm lý ngần ngại trong việc bỏ vốn đầu tư phát triển công nghiệp còn khá phổ biến trong nhân dân, một phần là do kinh nghiệm hoạt động kinh doanh còn ít, phần khác là do môi trường kinh doanh chưa đủ hấp dẫn.

2.4. Chủ động trong việc tạo lập nguồn vốn, tìm kiếm thị trường

Trước tiên, các doanh nghiệp sản xuất trong nước cần căn cứ theo hướng phát triển trong tình hình mới để có những định hướng đầu tư phù hợp. Trong từng ngành, với từng mặt hàng, các doanh nghiệp phải có dự kiến trước được các khả năng có thể ảnh hưởng hay tác động tới tình hình sản xuất kinh doanh khi Việt Nam đưa mặt hàng đó vào thực hiện chương trình CEPT. Qua đó, doanh nghiệp có thể tìm ra các sản phẩm mới hay phát triển các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu, tìm ra thị trường mới cho sản phẩm của mình; Các giải pháp để có thể làm chủ được thị trường nội địa và sau đó phải tìm kiếm khả năng xuất khaảu; Định hướng về sản phẩm chủ lực, thị trường trọng điểm để có phương án sản xuất kinh doanh đáp ứng các nhu cầu xuất khẩu sang ASEAN hoặc ngoài ASEAN.

Cần phải có một bức tranh rõ ràng về vị trí hiện tại của doanh nghiệp để định hướng đầu tư phát triển hay chủ động liên doanh, liên kết để nâng cao năng lực thị trường của doanh nghiệp.

Ở tầm vi mô, các doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức tiếp cận và phân tích, khai thác thông tin, trực tiếp và thường xuyên tiếp xúc với thị trường thế giới thông qua các hội thảo khoa học, hội chợ triển lãm, đẩy mạnh tiếp thị để kịp thời nắm bắt thị trường, bám sát và tiếp cận được tiến bộ của thế giới trong sản xuất kinh doanh, tự mình lo tìm bạn hàng, thị trường, ký hợp đồng, tổ chức sản xuất và xuất khẩu theo nhu cầu và thị hiếu của thị trường, tránh tư tưởng ỷ lại vào các cơ quan quản lý Nhà nước hoặc trông chờ trợ cấp, trợ giá.

2.5. Kiên quyết không đầu tư vào những ngành hàng không có khả năng cạnh tranh

Tham gia AFTA, các doanh nghiệp phải đối diện với môi trường cạnh tranh lớn hơn. Thực tế, trước khi tham gia CEPT thì những năm gần đây các doanh nghiệp trong nước đã phải chịu sức cạnh tranh mạnh từ khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã và đang nhường từng phần thị trường cho khu vực này. Do đó, một vấn đề thực tế hiện nay là cần đánh giá hiện trạng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về giá thành, về chất lượng hay mẫu mã – so sánh với các hàng hoá từ ASEAN trên thị trường trong nước hay cả trên thị trường khu vực. Từ đó có hướng khai thác, phát triển các khả năng cạnh tranh riêng biệt này.

Trong việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), cần quy định rõ việc ưu tiên cho những ngành công nghiệp kỹ thuật cao (hitech), công nghiệp chế biến…, dần dần tạo nên những ngành công nghiệp mạnh, những khu công nghiệp mạnh của nước ta, đủ sức làm ăn bình đẳng với các nước ASEAN (công nghiệp điện tử, công nghiệp dệt may, da giày, công nghiệp luyện kim,…) và góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Doanh nghiệp cần xem xét, đánh giá cụ thể các yếu tố liên quan đến sản xuất, tiêu thụ của từng mặt hàng trong tương quan so sánh với các mặt hàng cùng loại từ ASEAN. Chúng ta có thể thấy, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một thực trạng là có một lực lượng lao động dồi dào nhưng thiếu các lao động lành nghề. Một số ngành công nghiệp còn gặp phải khó khăn trong vấn đề nhập khẩu nguyên liệu thô và các máy móc chuyên dụng do các chính sách quá khắt khe. Song để có thể hội nhập một cách thành công, chúng ta phải phát huy, tận dụng được những lợi thế của mình mà một trong những cách thức để thực hiện điều đó là phải đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh. Khi các hàng rào thuế quan và phi quan thuế được gỡ bỏ, hàng hoá của các nước ASEAN sẽ được cạnh tranh trong một môi trường lành mạnh và nếu hàng hoá của Việt Nam hiện đã chiếm được những thị phần tương đối sẽ dễ phát huy được tính ưu việt và thâm nhập vào các thị trường láng giềng như các sản phẩm da giày, dệt may, hay nông sản.

–       Mở rộng hơn nữa thị trường xuất khẩu đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường truyền thống đồng thời phải tìm hiểu kỹ thị hiếu của khách hàng và sở thích công nghiệp của các thị trường, đặc biệt là thị trường rộng lớn như Mỹ khi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ được phê chuẩn.

–       Loại bỏ các rào cản kỹ thuật với thương mại (TBT) bằng cách quản lý chất lượng sản phẩm chặt chẽ hơn.

–       Cho phép nhập khẩu miễn thuế hàng tư liệu sản xuất và các đầu vào trực tiếp phục vụ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu.

–        Tạo được một chuyển biến bước ngoặt cũng như nghiên cứu thị trường để cố gắng tăng cường giá trị gia tăng nội địa cho sản phẩm.

–       Xúc tiến đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước bằng cách loại bỏ thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất và các đầu vào trực

tiếp dùng trong sản xuất hàng xuất khẩu.

Tóm lại, tham gia vào AFTA là một thách thức không nhỏ đối với Việt Nam mà cần sự nỗ lực tổng thể, bổ sung lẫn nhau của tất cả các ngành giúp cho nền kinh tế Việt Nam thực sự được cất cánh.

 2.6. Cải tiến công nghệ, cải tiến quản lý, tăng cường đào tạo

Trong việc lựa chọn công nghệ và chuyển giao công nghệ, nhất thiết phải coi trọng việc chọn công nghệ cao, hiện đại, có sức cạnh tranh  không tiếp nhận công nghệ cũ, lạc hậu, dù với bất kỳ hình thức nào (kể cả bằng nguồn vốn ODA hoặc viện trợ nhân đạo, viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ). Coi trọng các hàm lượng công nghệ mới, thông tin, chất xám và trình độ tổ chức cao (T, I, H, O) trong quá trình chuyển giao công nghệ (Technoware, Inforware, Humanware, Organware) vào Việt Nam.

Nghiên cứu đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý tăng năng suất như thế nào để đảm bảo rằng với mức thuế Việt Nam cam kết như trong CEPT, dù mặt hàng của các nước ASEAN có nhập vào Việt Nam cũng không thể cạnh tranh được với mặt hàng của ta sản xuất. Theo hướng đó, các doanh nghiệp cần xây dựng chương trình hành động cụ thể của mình kết hợp giữa năng lực sản xuất với năng lực kinh doanh để đảm bảo không ngừng nâng cao sức cạnh tranh, kết hợp với các lợi thế cam kết quốc tế, đưa được ngày càng nhiều hàng của mình ra thị trường nước ngoài, khẳng định được vị trí trên trường quốc tế đồng thời nhập khẩu được nhiều vật tư thiết bị tốt, thuế thấp, nhất là các vật tư phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.

Cần hết sức chú ý việc bảo vệ môi trường, tránh hậu quả của việc nhập không tính toán kỹ các công nghệ nặng nhọc, ô nhiễm và nguy hiểm, cũng như tốn năng lượng, làm mất khả năng cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam và gây tác hại đến môi trường sau này.

Nếu như nền kinh tế thế giới chủ yếu vẫn dựa vào những ngành công nghiệp truyền thống với nguyên liệu cơ bản là tài nguyên thiên nhiên chứ không phải dựa vào các ngành công nghệ cao và dịch vụ tri thức với tài nguyên thông tin và trí tuệ; và nếu như nền kinh tế thế giới không được toàn cầu hoá như đang diễn ra, thì tính cạnh tranh của nó chắc sẽ không khốc liệt như ta đang thấy và đồng thời cũng ít cơ hội để lựa chọn hơn: nước giàu sẽ giàu mãi, nước ngèo sẽ càng nghèo hơn. Nhưng từ nay tình hình đã khác: nước giàu vẫn có thể bị chững lại và nước nghèo vẫn có hy vọng vượt lên. Thịnh và suy bây giờ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tạo ra, duy trì và tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế. Sức cạnh tranh của nền kinh tế của mỗi nước phụ thuộc một loạt yếu tố, trong đó trình độ khoa học và công nghệ là yếu tố quyết đinh, bởi vì, như trên ta đã thấy, ngày nay khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế – xã hội.

Không phải ngẫu nhiên mà vào đầu những năm 90 rất nhiều nước đặc biệt các nước phát triển cao, đã điều chỉnh lại những chính sách của mình đối với khoa học và công nghệ. Thấy rõ con đường duy nhất để tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế là dựa hẳn vào khoa học và công nghệ, tức là bằng khoa học và công nghệ, vì vậy Chính phủ nhiều nước đã làm hết mình cho khoa học và công nghệ.

Nhu cầu nhân lực có tính quyết định. Các cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ, cán bộ chuyên môn đều phải giỏi, tinh thông nghề nghiệp, nắm bắt kịp thời thông tin mới nhất và đối phó được với các mánh khoé làm ăn trên thương trường.

Vấn đề đào tạo cán bộ ở các doanh nghiệp là vấn đề được thường xuyên nhấn mạnh bởi con người là yếu tố quyết định. Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực ở đây để khẳng định lại tầm quan trọng cần đặc biệt ưu tiên để đảm bảo thắng lợi cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc đào tạo cần được qui hoạch, phân loại, để đào tạo theo năng lực sở trường dựa trên yêu cầu công việc. Đào tạo lại và đào tạo mới cần kết hợp để đáp ứng được những nhu cầu mới phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trước mắt cần tới 3 loại cán bộ sau đây:

–   Đào tạo công nhân lành nghề ở từng lĩnh vực, dây chuyền sản xuất. Vấn đề này cần được nhấn mạnh ở thời điểm này bởi thời gian qua đào tạo ở cấp đại học đã được chú trọng nhiều, tuy cần thiết, nhưng sẽ thiếu tác dụng động lực nếu thiếu công nhân kỹ thuật lành nghề.

–   Đào tạo cán bộ có trình độ kinh doanh quốc tế giỏi. Đây là loại hình cán bộ rất tổng hợp cả am hiểu sản xuất, cả am hiểu thị trường, kỹ thuật đàm phán, giao dịch, ký kết hợp đồng, và thạo ngoại ngữ. Chúng ta rất thiếu, và rất cần loại cán bộ này.

–   Đào tạo cán bộ pháp lý, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và thương mại quốc tế, để đủ trình độ tư vấn, trợ lý giúp giám đốc trong kinh doanh và hợp tác quốc tế.

2.7.  Tham gia với Chính phủ và các cơ quan chức năng trong việc rà soát chính  sách

Các doanh nghiệp cần có cơ chế theo dõi sát chương trình CEPT, vì tuỳ mức độ sẽ trực tiếp hay gián tiếp, doanh nghiệp sẽ đối mặt với các cơ hội hoặc thách thức như:

–      Khả năng lựa chọn được nguồn cung cấp rẻ hơn từ ASEAN với lý do việc giảm thuế nhập khẩu trong nội bộ khu vực.

–      Dung lượng và cơ cấu tiêu dùng sẽ thay đổi, dẫn đến thay đổi cơ cấu thị trường cung và cầu.

–      Vị trí độc quyền của một số doanh nghiệp Nhà nước sẽ thay đổi. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ dễ bị tổn thương nhất…

Đa số các doanh nghiệp trong nước hiện nay đều có quy mô nhỏ, khó đủ sức làm chủ thị trường trong nước cũng như không đủ sức vươn ra thị trường nước ngoài. Vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ lẻ, rời rạc hiện nay nên tập hợp thành các Hiệp hội ngành, hàng thì mới tạo thành sức mạnh để tham gia các hoạt động trên thị trường với quy mô lớn hơn như: thu nhập thông tin, khảo sát thị trường ngoài nước, phối hợp các khả năng sản xuất để có thể cung cấp hàng hoá có số lượng lớn, hợp sức cải tiến các vấn đề về chất lượng..

Như vậy, trong môi trường ngày càng đa dạng và phức tạp, doanh nghiệp cần phải năng động hơn, chú trọng hơn đến các vấn đề về thông tin, tư vấn. Cần thiết lập các mối liên hệ với các đầu mối thông tin như các cơ quan Nhà nước, các Hiệp hội ngành hàng, các cơ quan tư vấn trong và ngoài nước…

Trong quá trình đàm phán ký kết hợp ồng với bạn hàng ở các nước, các doanh nghiệp cần quan tâm tổng kết thực tiễn, so sánh đối chiếu với các cam kết quốc tế, xem chính sách của nước đó đối với hàng hoá của Việt Nam thế nào, mức thuế cao hay thấp. Các chế độ chính sách thủ tục phi quan thuế trong xuất nhập khẩu và đầu tư đối với ta có điều gì trở ngại bất hợp lý cần tháo gỡ kịp thời để phản ánh cho các cấp quản lý, phản ánh cho Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế tổng hợp đưa ra đàm phán, đòi các nước này sửa đổi.

Với việc nghiên cứu đúc rút thực tiễn trong quan hệ bạn hàng với các nước, kết hợp với năng lực sản xuất và kinh doanh của ta, các đơn vị doanh nghiệp cần thông qua các đơn vị chủ quản của mình, các Hiệp hội ngành hàng, phản ánh nguyện vọng, đóng góp vào việc xây dựng chiến lược và phương án đàm phán cụ thể với từng tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực. Nói khác đi, mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp cần được tăng cường, duy trì thường xuyên và đều đặn.

Đứng trước nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương khuyến khích mọi thành phân kinh tế (quốc doanh và ngoài quốc doanh) cùng phát triển. Vấn đề còn phải làm tiếp là tạo ra môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh cho các nguồn đầu tư.

Trên đây là một vài đề xuất, ý kiến đóng góp của luận văn đối với một vấn đề hiện đang còn nhiều tranh luận. Trong khuôn khổ của đề tài này, em xin nhấn mạnh một điều là các giải pháp và biện pháp này cần phải xây dựng trong khuôn khổ một chiến lược nhất quán của quốc gia là đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong một bối cảnh nền kinh tế quốc tế và khu vực đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá một cách mạnh mẽ. Nhìn chung, vấn đề đẩy nhanh tiến trình thực hiện AFTA hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức về cả các điều kiện khách quan và chủ quan. Những biến động về tình hình chính trị của một số quốc gia thành viên hiện nay đang đặt AFTA dưới một áp lực lớn cần sự phối hợp nỗ lực của từng thành viên trong ngôi nhà chung ASEAN.