Một số giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn 2030

Nhóm giải pháp về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Lĩnh vực kinh tế

+ Xây dựng cơ chế, quy hoạch phát triển nông nghiệp

– UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai rà soát, điều chỉnh quy hoạch, cơ cấu sản xuất theo hướng tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh cây trồng, vật nuôi là lợi thế của địa phương, có khả năng cạnh tranh và phù hợp nhu cầu thị trường;

– Xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện hàng năm; Tổ chức kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện tại cơ sở.

– Triển khai cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa; xây dựng kế hoạch sử dụng đất phù hợp yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp về đất để đầu tư sản xuất, đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, nước, bảo vệ môi trường bền vững.

– Rà soát xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kỹ thuật thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh, đồng thời phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác.

– Tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân về quy hoạch, quy trình kỹ thuật trong nông nghiệp, chính sách hỗ trợ của tỉnh cho các chương trình, dự án để nhân dân tích cực tham gia.

– Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho thành viên HTX và nhân dân về việc củng cố và phát triển tổ hợp tác, HTX kiểu mới. Nhân rộng các phương án sản xuất, kinh doanh tốt; giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, thông tin thị trường để hình thành nên các tổ hợp tác, HTX một cách hoàn toàn tự nguyện. Đào tạo bồi dƣỡng nguồn nhân lực cho HTX và hình thành mô hình HTX kiểu mới điển hình có hiệu quả hoạt động cao

+ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

– Đẩy mạnh chương trình đào tạo nguồn nhân lực về chuyên môn, quản lý , nghiên cứu khoa học công nghệ và công nhân kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của ngành, đầu tư thích đáng cho công tác đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ cho các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sản xuất giống mới, nghiên cứu đưa vào áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến trong trồng trọt và chăn nuôi, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, công nghệ chế biến sâu và bảo quản nông sản. Xã hội hóa công tác đào tạo nghề, khuyến khích các nhà đầu tư tiếp nhận lao động địa phương đã qua đào tạo.

Xúc tiến tạo lập thị trường nhân lực KHCN thông qua chính sách đào tạo bồi dưỡng, thu hút nhân tài, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, trọng dụng, tôn vinh nhân tài.

Tăng cường đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động bằng nhiều hình thức như: Đào tạo tại chỗ hoặc kết hợp gửi đi đào tạo tại các trung tâm lớn trong và ngoài tỉnh để đáp ứng yêu cầu lao động có tay nghề cao cho sản xuất.

Khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với các cơ sở đào tạo để hỗ trợ kinh phí đào tạo cho sinh viên theo học các ngành có liên quan đến nông nghiệp như ngành cơ khí nông nghiệp, công nghệ thực phẩm và tiếp nhận vào làm tại các doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Lĩnh vực xã hội

– Phát triển du lịch nông thôn: thông qua việc đẩy mạnh yếu tố cộng đồng và xây dựng bản sắc văn hóa truyền thống của từng dân tộc, từng địa phương; lấy hiệu quả kinh tế để đánh giá và tuân thủ các quy luật của thị trường với tư cách là một ngành kinh tế, mang lại các lợi ích kinh tế, gắn với các lợi ích về xã hội và môi trường; sự tham gia của cộng đồng và người dân nông thôn với tư cách là chủ thể của du lịch nông thôn; vấn đề giới trong phát triển du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng; vai trò của việc hình thành các chuỗi giá trị trong quá trình phát triển du lịch nông thôn; phát huy vai trò của các bên liên quan khác như: Các công ty lữ hành, các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức xã hội; nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch với việc nâng cao giá trị và sự khác biệt của các sản phẩm hướng tới từng nhóm đối tượng du khách đặc thù.

– Chú trọng đầu tư nhiều hơn vào các trường, trung tâm dạy nghề cho nông dân. Nghiên cứu hình thành và triển khai chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và các điều kiện an sinh xã hội bền vững đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất để bảo đảm không tạo ra những vấn đề xã hội mới. Tiếp tục triển khai các dự án xóa đói, giảm nghèo bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo từng đối tượng người nghèo ở các vùng nông thôn sâu, xa.

– Xã hội hóa công tác khuyến nông: thúc đẩy sự hình thành mô hình khuyến nông có sự tham gia của các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, tổ chức chính trị – xã hội, các sở, ngành… nhằm cung cấp các chương trình, dự án, mô hình trình diễn, mô hình khảo nghiệm, các lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng – vật nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi cho nông dân. Hoạt động xã hội hóa khuyến nông đã thu hút các nguồn lực để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng canh tác cho nông dân, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế trong sản xuất.

Lĩnh vực môi trường

– Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về thức bảo vệ môi trường nông thôn, hướng dẫn nhân dân thực hiện pháp luật, các biện pháp bảo vệ môi trường

– Hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường

– Chỉ đạo, xử lý nghiêm về những nơi bức xúc về môi trường

– Tăng cường mạng lưới quan tr c về môi trường, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của luật pháp

– Đối với các vùng chăn nuôi thì việc xử l chất thải bằng hầm biôga là phương pháp mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên, cần phải xây dựng hệ thống hầm biôga theo đúng tiêu chuẩn, có kiểm soát để đảm bảo an toàn môi trường chăn nuôi tối đa. Đối với các trang trại chăn nuôi kết hợp giữa lợn và cá, vịt thì cần phải xử l nguồn rác thải trước khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.

– Đối với các vùng trồng cây việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật cần phải được thực hiện nghiêm túc theo tiêu chuẩn.

– Các nhà máy chế biến nông sản cần xây dựng hệ thống xử lý nước thải, rác thải phù hợp với công suất chế biến. Tiến tới sử dụng nước theo chu trình khép kín, nước thải sau khi xử lý lại đưa vào sản xuất, xây dựng những cơ sở tái chế bã thải của các nhà máy dùng trong các sản phẩm hàng hoặc làm phân bón.

– Tiến hành đánh giá hiện trạng môi trường ở các vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, các cơ sở chế biến nông sản để có những giải pháp cụ thể bảo vệ môi trường tại những vùng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhất.