Một số hạn chế của qui chế pháp lý về công ty hợp danh.

Qua nội dung trình bày ở trên ta có thể thấy được khái quát chung về qui chế pháp lý thành lập và hoạt động của công ty hợp danh. Nhưng thực tế cho thấy số công ty hợp danh ở nước ta rất hạn chế, nguyên nhân có thể do đây là loại hình doanh nghiệp mới còn ít người biết đến, ngoài ra còn có thể có nguyên nhân khác trong đó trực tiếp đến sự phát triển của loại hình doanh nghiệp là qui chế pháp lý. Một số hạn chế về qui chế pháp lý về công ty hợp danh có thể nhận thấy như sau:

Thứ nhất, theo điểm b khoản 1 Điều 95 Luật doanh nghiệp “Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty”. Như vậy, thành viên hợp danh phải là người có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp. Qui định này mang tính chất chung chung, không có qui định cụ thể đối với trình độ chuyên môn của thành viên hợp danh, hơn nữa luật cũng không qui định loại ngành nghề kinh doanh nào bắt buộc khi hoạt động phải thành lập theo loại hình công ty hợp danh.

Thứ hai, theo khoản 1 Điều 96 Luật doanh nghiệp “Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ cuả công ty”. Theo qui định này, các thành viên hợp danh có thể tự do, độc lập tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty, nhưng các nghĩa vụ phát sinh của từng thành viên hợp danh khi hoạt động kinh doanh độc lập thì các thành viên khác cũng phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Đặc biệt là khi các thành viên hợp danh thành lập doanh nghiệp, nhưng hoạt động kinh doanh là mang tính độc lập giữa các thành viên, cùng hoạt động một ngành nghề đăng ký kinh doanh, cũng có thể nhân danh công ty và lợi nhuận thu được thì thành viên nào làm thì thành viên đó hưởng, nhưng khi phát sinh nghĩa vụ, có thể dẫn tới phá sản của một trong thành viên hợp danh thì tất cả các thành viên còn lại cũng có nguy cơ tương tự. Đây có thể là một qui định làm hạn chế việc phát triển loại hình doanh nghiệp này.

Thứ ba, theo khoản 2 Điều 97 Luật Doanh nghiệp qui định: “Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề của công ty”. Công ty hợp danh là công ty đối nhân, quan hệ giữa các thành viên là chủ yếu, phần vốn góp là thứ yếu tuy nhiên với bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào thì khả năng thực hiện các nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh vẫn là yếu tố quan trọng nhất, qui định trên có thể tạo sự bình đẳng đối với các thành viên khi quyết định các vấn đề liên quan đến công ty nhưng nó gây ra sự thiếu công bằng đối với thành viên có số vốn góp lớn hơn.

Thứ tư, theo khoản 1 Điều 95 Luật Doanh nghiệp, một trong những điều kiện để thành lập doanh nghiệp hợp danh là phải có ít nhất hai thành viên hợp danh. Qui định này tỏ ra cứng nhắc bởi qui định về công ty hợp danh ở một số nước như Mỹ, Thái Lan… công ty hợp danh có thể được thành lập bởi một thành viên hợp danh và một thành viên góp vốn trở lên. Loại hình doanh nghiệp này có thể gọi là công ty hợp danh hữu hạn, ở một số nước khác gọi là công ty hợp vốn. Như vậy không nhất thiết công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp dạnh trở lên như qui định ở Điều 95 khoản 1.