Một số kiến nghị để giảm nghèo bềnh vững

Nhằm nâng cao vai trò của CQCT đối với GNBV  vùng miền núi nói chung và  tỉnh Nghệ An nói riêng, thời gian tới Quốc hội và Chính phủ  Việt Nam cần thực hiện tốt những vấn đề sau:

Kiến nghị với Quốc hội

Để tăng cường hiệu quả vai trò của CQCT trong thực hiện chính  sách GNBV,  cần thiết phải tăng cường sự giám sát các cơ quan nhà nước theo đúng tin thần Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24/6/2014 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu GNBV đến năm 2020, đặc biệt, tăng cường việc định hướng GNBV cho vùng miền    núi thời gian tới theo hướng tăng cường mức độ ưu tiên, đảm bảo nguồn lực thực hiện chính sách GN, tăng cường quản lý và phân công, phân cấp trách nhiệm tới từng cấp, đơn vị, cơ quan hữu quan trong giảm nghèo.

Quốc hội cần phải có định hướng ưu tiên phân bổ ngân sách cho các chính sách GNBV vùng miền núi, vùng DTTS, vùng sâu, vùng cao theo hướng căn cứ vào năng  lực thực hiện của chính quyền địa phương, gắn với các mục tiêu giảm nghèo cụ thể và kết quả đầu ra. Việc xây dựng, sắp xếp các chương trình GNBV quốc gia cần tăng tính tích hợp với các chương trình đã ban hành, vẫn còn có hiệu lực tới thời điểm thực thi chính sách, sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm các nguồn lực trong chính sách  GNBV để tăng hiệu quả và tác động tới đối tượng thụ hưởng.

Tăng cường chức năng của Quốc hội trong thực hiện các chính sách GNBV, đặc biệt là việc tổ chức và triển khai thực hiện các chính sách GNBV vùng miền núi, vùng DTTS, địa bàn 30a, và với các hợp phần cung cấp các dịch vụ công  thiết  yếu cho  người nghèo như chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, đất  ở, nhà ở, dịch   vụ y tế, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ trợ giúp pháp lý…

Kiến nghị với Chính phủ

 Thứ nhất, chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách giảm nghèo đối với vùng miền núi. Trước hết cần nhanh chóng  rà soát,  bổ sung, sắp xếp hợp  lý, lồng  ghép các chính sách liên quan tới giảm nghèo và GNBV cho vùng miền núi  theo  hướng tinh giảm số lượng, giảm sự chồng chéo, trùng lắp; tăng trách nhiệm giải trình của các cấp trong vấn đề hoạch định, ban hành, triển khai chính sách GNBV;

Đối với những chính sách hỗ trợ trực tiếp, cần xem xét phân bố lộ trình giảm dần  số lượng và mức độ hỗ trợ, tăng cường các chính sách hỗ trợ có điều kiện và các chính sách phát triển vùng miền núi, lồng ghép chính sách và các nguồn lực một cách hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm, chống lãng phí và dàn trải trong đầu tư GNBV.

Các chính sách giảm nghèo cho vùng miền núi cần sát với thực tế của từng đối tượng nghèo, gắn việc hỗ trợ giảm nghèo với thời hạn và điều kiện  nhằm tăng tính  trách nhiệm của các đối tượng thụ hưởng chính sách, tạo tâm thế tự vươn lên thoát nghèo, tránh ỷ lại vào sự hỗ trợ vật chất trực tiếp của Nhà nước.

Thứ hai, Chính phủ cần xây dựng kế hoạch cân đối nguồn lực ngắn, trung và dài hạn, trong đó ưu tiên nguồn lực cho các  chính sách có tác động lan tỏa lớn,  tránh đầu  tư dàn trải, không có trọng tâm sẽ làm giảm hiệu quả chính sách. Bên cạnh đó, trong  quá trình hoạch định, ban hành và thực thi chính sách GNBV vùng miền núi, cần tăng cường sự tham gia xây dựng và tiếp  cận thông  tin chính sách của người dân bằng  nhiều phương thức khác nhau, tạo sự linh hoạt để thu hút người dân, người nghèo cũng như các tổ chức chính trị – xã hội tham gia quá trình giám sát hoạt động GNBV  của   các địa phương.

Trong phân bổ nguồn lực, cần tập trung đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực để tăng  việc cung cấp các dịch vụ công cộng cho vùng miền núi, vùng cao như dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe người nghèo, đồng bào dân tộc, người nghèo ở vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn….

Thứ ba, Chính phủ cũng cần thiết tăng cường thiết chế quản lý nhà nước về giảm nghèo, phải xây dựng quy trình chuẩn trong ban hành chính sách GNBV cho các địa phương triển khai thực hiện, trong đó chú ý đảm bảo việc ban hành chính sách gắn với chủ động nguồn lực và dự báo được kết quả đầu ra; đổi mới cơ chế điều hành trong tổ chức thực hiện và điều phối nguồn lực, phối hợp hoạt động giữa các cấp chính quyền, trao quyền cho người nghèo.

Thứ tư, Chính phủ cần đầu tư để nâng cao chất lượng bộ máy trực tiếp thực hiện chính  sách trong cả nước, tăng số lượng biên chế cho bộ máy giảm  nghèo trong khi  vẫn đảm bảo không tăng lượng biên chế của bộ máy quản lý nhà nước, giảm công tác kiêm nhiệm; quan tâm đào tạo cán bộ tại chỗ đối với những vùng đặc biệt khó khăn.  Đặc biệt, cần xây dựng được chuẩn nghèo đa chiều sau năm 2020  nhằm đảm bảo  những điều kiện vật chất và tinh thần tối thiểu  cho người nghèo, đảm bảo mục tiêu  giảm nghèo nhanh và bền vững; nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí  đánh giá chuẩn  nghèo, tổ chức theo dõi nghèo và giảm nghèo thống nhất trên cả nước; tăng cường cơ  sở vật chất kỹ thuật, các công cụ hiện đại trong quản lý để đảm bảo cho khâu giám sát, đánh giá giảm nghèo được chính xác, khoa học và hiệu quả.