Một số luận điểm về quan hệ kinh tế của Trung Quốc với châu Phi

Luận điểm dựa trên một số lý thuyết truyền thống về hợp tác kinh tế

Những luận điểm ủng hộ việc thúc đẩy quan hệ kinh tế của Trung Quốc với châu Phi cho rằng, đây là điều tất yếu trong một thế giới phát triển năng  động và toàn cầu hóa, phù hợp với quá trình cải cách, mở cửa của Trung Quốc  và Châu Phi. Trung Quốc và các nước Châu Phi đều là những nền kinh tế đang phát triển, có những tiềm năng và lợi thế so sánh, có thể bổ sung cho nhau. Những tuyên bố chính sách của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc gần đây đều thể hiện sự tiếp tục quan điểm, chính sách tập trung khai thác sự gần gũi về lịch sử và mối thiện cảm vốn có của các quốc gia Châu Phi đối với Trung Quốc như là một quốc gia “bạn bè” đáng tin cậy đã cùng kề vai sát cánh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây nay tiếp tục hợp tác giúp đỡ trên tinh thần cùng có lợi, không hề có tham vọng chi phối, áp đặt về mặt chính trị như các quốc gia khác.

Dưới góc độ kinh tế, quan điểm ủng hộ thương mại tự do và vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh cổ điển cho rằng, mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất loại sản phẩm nào đó mà họ có lợi thế tuyệt đối; sự khác biệt về lợi thế tuyệt đối giữa hai quốc gia là nguồn gốc của trao đổi thương mại quốc tế; xuất khẩu sẽ hình thành trên cơ sở lợi thế tuyệt đối và trao đổi phải để bàn tay vô hình tự điều tiết. Dưới góc độ phát huy lợi thế so sánh tuyệt đối, theo Adam Smith, mỗi nước cũng có thể chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh (tương đối có hiệu quả hơn) và nhập khẩu sản phẩm mà nước đó không có lợi thế so sánh (tương đối không hiệu quả hơn). Đây là căn cứ quan trọng để Trung Quốc và nhiều nước Châu Phi ở các trình độ phát triển khác nhau có thể đẩy mạnh quan hệ thương mại trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh cả tuyệt đối và tương đối để cùng nhau phát triển.

Các lý thuyết thương mại mới cũng chia sẻ với quan điểm trên khi cho  rằng, thông qua tác động lên lợi ích kinh tế nhờ quy mô, thương mại có thể giúp đa dạng hoá hàng hóa cung cấp tới người tiêu dùng và giảm bớt chi phí trung bình trên một sản phẩm. Với lập luận này, Paul Krugman đã chứng minh rằng, một số ngành công nghiệp nhờ vào “tính tiết kiệm do qui mô” nên quốc gia nào có công xưởng sản xuất sản phẩm đó với quy mô lớn thì sẽ xuất khẩu những loại hàng ấy, do sản lượng sản xuất lớn thì càng chi phí bình quân càng thấp. Trung Quốc đã trở thành “công xưởng của thế giới” còn Châu Phi là “mỏ tài nguyên khổng lồ của thế giới” nên hai nền kinh tế có những lợi thế về quy mô cần được phát huy theo quy luật của thị trường.

Khác biệt về trình độ phát triển và công nghệ thường được xem là nguyên nhân lý giải cho hoạt động đầu tư của Trung Quốc vào Châu Phi.

Lý thuyết chiết trung của Dunning cho thấy, động lực của dòng vốn đầu  tư của Trung Quốc vào Châu Phi là tìm kiếm thị trường và tài nguyên. Theo lý thuyết này, có ba lợi thế ảnh hưởng quyết định đầu tư [62]: (1) Lợi thế về sở hữu (ownership advantages – O), bao gồm lợi thế về tài sản, lợi thế về tối thiểu hoá chi phí giao dịch); (2) Lợi thế về địa điểm (location advantages – L), bao gồm: tài nguyên của đất nước, qui mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của chính phủ) và (3) Lợi thế nội bộ (Internalization advantages – I), bao gồm: giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế). Lý thuyết này cho rằng: những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI. Những lợi thế này biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển nên ảnh hưởng đến FDI đổ vào từng nước và ở từng thời kỳ khác  nhau. Theo đó, có bốn dạng FDI: i) FDI tìm kiếm thị trường, chú trọng các yếu tố như quy mô và tăng trưởng của thị trường, thu nhập bình quân đầu người, khả năng thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu, thị hiếu người tiêu dùng…; ii) FDI tìm kiếm nguồn lực và tài nguyên, chú trọng các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ, cơ sở hạ tầng và mức độ công nghệ…; iii) FDI tìm kiến hiệu quả, tập trung vào những địa điểm mà chi phí sản xuất thấp hơn; và iv) FDI tìm kiếm các tài sản chiến lược, chú trọng việc triển khai chiến lược toàn cầu và khu vực của các công ty, hình thành mạng lưới công nghệ, tổ chức và thị trường.

Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư, quá trình phát triển và hoạt động đầu tư của các nước được chia ra thành 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Trong thời gian trước những năm 1980, khi cả Trung Quốc và các nước Châu Phi còn ở trong tình trạng kém phát triển, lợi thế về địa điểm (location advantages) ít hấp dẫn, luồng vào FDI không đáng kể do hạn chế của thị trường trong nước (thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, giáo dục yếu kém, lao động không có kỹ năng…), hầu như không có luồng ra FDI. Quan hệ đầu tư giữa Trung Quốc với Châu Phi không đáng kể.

Giai đoạn 2: Khi Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách, mở cửa, FDI vào Trung Quốc bắt đầu tăng do lợi thế về địa điểm đã hấp dẫn các nhà đầu tư (sức mua trong nước bắt đầu tăng, cơ sở hạ tầng đã được cải thiện…). FDI chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất để thay thế nhập khẩu và những ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc sản xuất ra nguyên vật liệu, sản phẩm sơ chế. Tuy nhiên, đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc trong giai đoạn này không đáng kể vì tiềm lực kinh tế của các doanh nghiệp Trung Quốc còn chưa đủ mạnh.

Giai đoạn 3: Trung Quốc hiện nay đã bước vào giai đoạn này. Luồng vào của FDI bắt đầu giảm và đầu tư ra nước ngoài bắt đầu tăng. Khả năng kỹ thuật của Trung Quốc đã được cải thiện, tiêu chuẩn hoá song lợi thế về lao động giảm dần do giá lao động của Trung Quốc hiện đã tăng cao, nên phải chuyển đầu tư sang những nước có lợi thế tương đương đối về lao động nhằm tìm kiếm thị trường hoặc giành những tài sản chiến lược để bảo vệ lợi thế về sở hữu (ownership advantages). Trong chiến lược đó, Châu Phi là địa bàn hấp dẫn đối với các công ty Trung Quốc.

Giai đoạn 4: Đây là giai đoạn mà Trung Quốc đang hướng tới. Lợi thế về sở hữu của các công ty Trung Quốc sẽ tăng lên. Những công nghệ sử dụng nhiều lao động dần được thay thế bởi công nghệ sử dụng nhiều vốn. Lợi thế L của Trung Quốc chuyển sang các tài sản. FDI vào nước này để tìm kiếm những tài sản. Các công ty trong nước của Trung Quốc sẽ thúc đẩy FDI ra nước ngoài nhiều hơn thay vì nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm, bởi vì họ có thể khai thác lợi thế nội bộ (internalization advantages). Do vậy, luồng vào và luồng ra của FDI đối với Trung Quốc vẫn tăng, nhưng luồng ra sẽ nhanh hơn.

Giai đoạn 5: Luồng ra và luồng vào của FDI tiếp tục và khối lượng tương tự nhau. Luồng vào từ các nước có mức độ phát triển thấp hơn với mục đích tìm kiếm thị trường và kiến thức; hoặc từ các nước đang phát triển ở bước 4 và 5 để tìm kiếm sản xuất có hiệu quả hơn [63].

Các lý thuyết về sự khác biệt công nghệ cũng cho rằng, khác biệt về trình độ công nghệ giữa Trung Quốc và Châu Phi là nguyên nhân chính dẫn đến thương mại giữa hai nền kinh tế. Theo lý thuyết này, khi một nước có sản phẩm mới và công nghệ mới thì họ sẽ xuất khẩu sản phẩm mới sang nước khác. Với hai quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, nước có trình độ công nghệ cao sẽ xuất khẩu các sản phẩm mới, công nghệ mới sang nước có trình độ phát triển công nghệ thấp để đổi lấy các mặt hàng đã được chuẩn hóa. Sau đó, các sản phẩm mới lại được chuẩn hóa ở nước thứ hai và nước thứ nhất với khả năng sáng tạo cao lại đưa ra các sản phẩm công nghệ cao hơn phức tạp hơn.

Ngoài ra, một trong những mô hình phát triển thường được vận dụng để lý giải cho sự hợp tác kinh tế cùng có lợi giữa các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau là mô hình “Đàn nhạn bay”. Mô hình “đàn nhạn” của sự phát triển công nghiệp được Kaname Akamatsu đưa ra vào những năm 1961 –1962 để giải thích cho vai trò của Nhật Bản đối với sự phát triển của các nước Đông Á đi sau. Akamatsu chia quá trình phát triển thành 3 giai đoạn: (1) sản phẩm được nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước; (2) sản phẩm trong nước tăng lên để thay thế cho nhập khẩu; sản xuất để xuất khẩu, FDI sẽ thực hiện ở giai đoạn cuối để đối mặt với sự thay đổi về lợi thế tương đối.

Terutomo Ozawa là người tiếp theo nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và mô hình “đàn nhạn”. Theo ông, một ngành công nghiệp của nước đang phát triển có lợi thế tương đối về lao động, sẽ thu hút FDI vào để khai thác lợi thế này. Tuy nhiên, sau đó tiền lương lao động của ngành này dần dần tăng lên do lao động của địa phương đã khai thác hết và FDI vào sẽ giảm đi. Khi đó các công ty trong nước đầu tư ra nước ngoài (nơi có lao động rẻ hơn) để khai thác lợi thế tương đối của nước này, tạo ra quá trình liên tục của FDI.

Nhìn từ mô hình này, Trung Quốc có thể đóng vai trò ở Châu Phi một cách tích cực, cũng giống như Nhật Bản đã từng kéo theo sự phát triển của nhiều nền kinh tế ở Đông Á. Các hoạt động đầu tư và liên kết sản xuất với Trung Quốc ở Châu Phi trước hết giúp các nền kinh tế ở châu lục này hình thành một nền công nghiệp đơn giản, trên nền tảng đó nâng dần sự phát triển công nghiệp.

Luận điểm về Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại của Trung Quốc

Thuật ngữ “cộng đồng chung vận mệnh nhân loại” lần đầu tiên được ông Tập Cận Bình sử dụng tại Diễn đàn Bác Ngao tháng 4/2013 khi ông nhấn mạnh với các bên tham dự nhu cầu cần phải có sự phát triển chung: “Là các thành viên của cùng một ngôi làng toàn cầu, chúng ta nên nuôi dưỡng cảm giác về cộng đồng chung vận mệnh, đi theo xu hướng của thời đại, giữ định hướng đúng đắn, đoàn kết với nhau trong thời điểm khó khăn và đảm bảo rằng sự phát triển ở châu Á và phần còn lại của thế giới đạt được những đỉnh cao mới” .

Quan điểm này hình thành khi Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh, muốn tỏ rõ hơn vai trò quan trọng của mình, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, bằng cách đề xuất ra những mô hình, sáng kiến và khẩu hiệu hợp tác mới. Tại Đại hội 19, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã nhấn mạnh hai mục tiêu đối ngoại xuyên suốt của Trung Quốc trong thời đại mới đó là xây dựng quan hệ quốc tế kiểu mới cộng đồng vận mệnh chung nhân loại.

Thời đại mới chính là bối cảnh thể hiện sự lớn mạnh và phát triển của Trung Quốc. Trung Quốc đã chuyển mình từ chỗ “đứng lên” trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc sang “giàu lên” trong thời kỳ Đặng Tiểu Bình tiến hành đường lối cải cách, mở cửa. Dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình, Trung Quốc đang bước vào thời kỳ “mạnh lên”, thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, với mục tiêu hoàn thành việc xây dựng xã hội toàn diện khá giả vào năm 2020; thực hiện hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa về cơ bản vào năm 2035; và đến năm 2050 xây dựng Trung Quốc trở thành một cường quốc xã hội chủ nghĩa.

Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội 19 Đảng Cộng Sản Trung Quốc nêu rõ những ý tưởng chính của “Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại”, khẳng định

Trung Quốc sẽ mãi là đất nước đóng góp cho hòa bình thế giới, cho sự phát triển toàn cầu và giữ gìn trật tự thế giới; cụ thể: i) Giấc mơ của nhân dân Trung Quốc liên thông chặt chẽ với giấc mơ của nhân dân các nước, không tách rời môi trường quốc tế hòa bình và trật tự thế giới ổn định; ii) Trung Quốc trước sau như một đi con đường phát triển hòa bình, thực hiện chiến lược mở cửa cùng có lợi cùng thắng, kiên trì quan điểm đúng đắn về đạo nghĩa và lợi ích; iii) xây dựng quan điểm an ninh mới, an ninh chung, an ninh tổng hợp, an ninh hợp tác và an ninh bền vững; iv) mưu cầu triển vọng phát triển mở cửa sáng tạo, bao trùm, cùng có lợi; v) thúc đẩy giao lưu văn hóa hòa nhập nhưng không hòa tan, bao dung tiếp thu lẫn nhau; vi) xây dựng hệ thống sinh thái tôn trọng tự nhiên, phát triển xanh. Đây là những luận điểm hợp tác hết sức hấp dẫn đối với các nước đang phát triển, trong đó có nhiều nước châu Phi. Đặc biệt, nhiều luận điểm trong việc xây dựng “cộng đồng chung vận mệnh nhân loại” đã đánh trúng tâm lý và quan điểm chính trị của nhiều nước châu Phi vốn không hài lòng với trật tự thế giới bị áp đặt bởi Mỹ và phương Tây.

Với việc đưa ra chủ thuyết đối ngoại này, Trung Quốc cũng ngầm thể hiện một sự thách thức và mô hình hợp tác thay thế cho trật tự thế giới do Mỹ chi phối. Trong những năm qua, nhiều học giả và các nhà chính trị của Trung Quốc cũng như châu Phi thường chia sẻ quan điểm coi trật tự chính trị và kinh tế quốc tế cũ do phương Tây chi phối là bất công và phi lý, khiến cho “toàn cầu hóa” bị biến thành “phương Tây hóa hoặc Mỹ hóa” – tiến trình cho phép phương Tây chi phối thế giới về mặt chính trị và kinh tế. Các chuẩn mực và quy tắc phổ biến của trật tự quốc tế hiện tại chủ yếu phục vụ các lợi ích bá quyền của Mỹ, bất công đối với các cường quốc đang trỗi dậy, bao gồm Trung Quốc. Ban lãnh đạo Trung Quốc gần đây đã nhấn mạnh yêu cầu phải có một “tư duy mới để xây dựng một khuôn khổ toàn cầu mới”, thúc đẩy “quan hệ quốc tế kiểu mới” nhằm ứng phó tốt hơn với những thay đổi của thế giới. Trung Quốc với vị thế nước lớn sẽ tạo ra một “hệ thống thế giới mới”, phản ánh tốt hơn các lợi ích và giá trị của riêng mình, đem lại cho thế giới một mô hình Trung Quốc.

Thực tế cho thấy, trên thế giới đã xuất hiện thuật ngữ “Đồng thuận Bắc Kinh” đối lập với sự “Đồng thuận Washington”. Sự khác biệt giữa hai mô hình trên chủ yếu là ở mức độ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. “Đồng thuận Washington” cho rằng: nhà nước nên can thiệp ở mức ít nhất vào nền kinh tế, cần phải bảo vệ sở hữu tư nhân, mở cửa và tự do hóa nền kinh tế, ổn định vĩ mô và thúc đẩy dân chủ – coi đây là cốt yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngược lại “Đồng thuận Bắc Kinh” nhấn mạnh vai trò chủ động của nhà nước can thiệp và định hướng, điều tiết thị trường; đồng thời cũng đề cao các hình thức sở hữu hỗn hợp, sở hữu nhà nước, sở hữu hỗn hợp; và sự thử nghiệm các định chế khác nhau trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. “Đồng thuận Bắc Kinh” là mô hình phản ánh thực trạng phát triển kinh tế của Trung Quốc trong mấy chục năm qua và trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, nhiều người cho rằng “Đồng thuận Bắc Kinh” có thể sẽ thay thế “Đồng thuận Washington” để định hình con đường phát triển của thế giới, hoặc ít nhất là con đường phát triển của các nền kinh tế mới nổi ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.

Với những sáng kiến như “Vành đai, Con đường” Trung Quốc tuyên bố muốn biến đổi hệ thống quốc tế hiện nay và giúp nó phát triển dần thành một cấu trúc công bằng hơn. Đối lập với trật tự chính trị và kinh tế quốc tế hiện nay vốn do phương Tây áp đặt, thể hiện “sự bất bình đẳng” và “ép buộc”, việc Trung Quốc mời chào các nước châu Phi tham gia vào dự án chiến lược như “Vành đai, Con đường” đã thể hiện sự cởi mở, khoan dung trong “một kiểu quan hệ quốc tế mới” do Trung Quốc cổ suý và thiết lập. Trong chuyến thăm châu  Phi của  Ngoại trưởng Vương Nghị vào đầu năm 2018, ông đã khẳng định “Châu Phi không thể vắng mặt trong việc triển khai sáng kiến Vành đai, con đường cũng như sự phát triển chung của Trung Quốc và thế giới” (theo Global Times ngày 22/1/2018). Sáng kiến Vành đai, Con đường đặt mục tiêu giúp các nước châu Phi phát triển công nghiệp, kết nối giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường không, hỗ trợ giảm nghèo và thúc đẩy hội nhập khu vực. Trung Quốc nhấn mạnh, tất cả các nước lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, đều bình đẳng; các nước châu Phi không chỉ là một bên tham gia mà thậm chí còn là một đối tác chủ chốt trong việc triển khai Vành đai, con đường. Với những tuyên bố đó, Trung Quốc đang muốn chứng tỏ cho các nước châu Phi thấy rằng, quan hệ hợp tác với

Trung Quốc là dựa trên “cộng đồng chung”, “lợi ích chung”, “vận mệnh chung” với những nguyên tắc như “hữu nghị”, “chia sẻ” và “cùng phát triển”.

Luận điểm về sự phụ thuộc và chủ nghĩa thực dân kiểu mới

Luận điểm này cho rằng, các quan hệ kinh tế với Trung Quốc không đem lại nhiều lợi ích cho Châu Phi trong dài hạn. Châu Phi sẽ có thể ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc và nước này đang thông qua những hoạt động thương mại, đầu tư, di dân và viện trợ để thực hiện một thứ “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” hay còn gọi là “chủ nghĩa thực dân mang màu sắc Trung Quốc” ở châu Phi. Đặc điểm của chủ nghĩa thực dân này là: Về mục tiêu: khai thác tài nguyên, chiếm hữu đất đai, mở rộng thị trường và mở rộng ảnh hưởng. Về công cụ: đẩy mạnh hoạt động đầu tư, thương mại, di dân, các hình thức viện trợ, truyền bá tư tưởng văn hóa, thậm chí tiến hành hối lộ, khuyến khích các hành vi tham nhũng ở châu Phi.

Trường phái lý thuyết về sự phụ thuộc cho rằng, các nền kinh tế thế giới luôn phụ thuộc lẫn nhau, sự nghèo khổ của các nước ngoại vi không phải là do họ không hội nhập vào nền kinh tế thế giới, mà là do phương cách họ hội nhập vào hệ thống kinh tế thế giới như thế nào. Mô hình quan trọng nhất trong lý thuyết về sự phụ thuộc như sau: “mối quan hệ giữa các lực lượng bên trong và lực lượng bên ngoài là một mối quan hệ phức tạp. Nó không phải là mối quan hệ dựa trên sự khai thác bóc lột lẫn nhau, mà nó được dựa trên sự trùng khớp về lợi ích giữa các thực thể trong nước với thế giới bên ngoài” . Lực lượng bên trong được hiểu là các cơ chế khai thác trong nước, còn lực lượng bên ngoài được hiểu là các cơ chế khai thác quốc tế (như các tổ chức tài chính quốc tế, các công ty xuyên quốc gia, hệ thống tài chính quốc tế, hệ thống sản xuất quốc tế, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài…). Tuy sự phụ thuộc lẫn nhau có thể đem lại phát triển song trên thực tế, bản chất của sự “tùy thuộc lẫn nhau“ trên thế giới hiện nay chính là sự “tùy thuộc bất đối xứng“ tức là các nước yếu phụ thuộc vào các nước mạnh nhiều hơn. Theo nghĩa đó, các nước Châu Phi đang dần bị lệ thuộc vào Trung Quốc thông qua các quan hệ kinh tế.

Trong thập kỷ 1970, trường phái lý thuyết phụ thuộc hay lý thuyết ngoại vi- trung tâm cho rằng các nước phát triển tăng cường quyền lực bằng cách can thiệp vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở những nước đang phát triển, đặc biệt thông qua sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, gắn các nước đang phát triển vào hệ thống tư bản toàn cầu để khai thác tài nguyên thiên nhiên, bóc lột lao động và tăng sự phụ thuộc của các nước đang phát triển ở vùng ngoại vi vào các nước phát triển ở vùng trung tâm. Khi nói về trật tự thế giới, trường phái Gramsci mới đã nêu lên học thuyết về “bá quyền”. Theo học thuyết này, bá quyền của một nước không chỉ dựa vào sức mạnh mà chủ yếu dựa vào sự thuyết phục của nước này và sự chấp thuận của các nước khác. Bá quyền dựa trên năm nền tảng: i) chia sẻ giá trị và ý thức hệ cao hơn với các nước còn lại; ii) có được phương thức sản xuất cao hơn; iii) xây dựng và tuân thủ các thể chế quốc tế; iv) có khả năng cung cấp các hàng hóa công cộng như tín dụng và an ninh; v) tạo ra lợi ích cho tầng lớp tinh hoa hoặc tầng lớp xã hội có ảnh hưởng ở các nước khác. Lý thuyết này không chỉ vận dụng cho sự lệ thuộc của các nước đang phát triển vào các nước phát triển mà còn có thể áp dụng cho các nước có trình độ phát triển khác nhau, đặc biệt là các nước nhỏ vào nước lớn. Ngoài ra, sự lệ thuộc giữa các quốc gia cũng còn cần phải xem ý đồ của một nước lớn trong quan hệ với các nước nhỏ như thế nào. Những người theo quan điểm này thường chung một nhận định, Trung Quốc đang nỗ lực thiết lập sự bá quyền ở Châu Phi.

Những hành động của Trung Quốc ở Châu Phi còn có thể so sánh với việc thực hiện một thứ chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Chủ nghĩa thực dân kiểu cũ khác chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở cách thức tiến hành, ở phương thức sử dụng và thủ đoạn sử dụng. Chế độ thực dân kiểu cũ xuất phát từ Anh, Pháp, Tây ban nha và Bồ Đào Nha có mục tiêu là chiếm hữu các quốc gia khác làm thuộc địa,  chiếm hữu người dân của nước khác làm tay sai, nô dịch, phục vụ lợi ích kinh tế và quân sự của mẫu quốc. Chủ nghĩa thực dân kiểu mới gây ảnh hưởng và chi phối nước khác không trực tiếp mà thông qua viện trợ vũ khí, viện trợ quân sự, viện trợ kinh tế…Sự viện trợ kinh tế, tài chính hay kĩ thuật cho các nước Á, Phi, Mỹ Latinh xuất phát trước hết từ lợi ích của các nước viện trợ, ràng buộc các nước nhận viện trợ vào phạm vi ảnh hưởng kinh tế và chính trị của các nước cung cấp viện trợ. Nói như vậy không có nghĩa phủ nhận tất cả ý nghĩa tích cực của viện trợ, nếu như viện trợ đó không kèm theo điều kiện ràng buộc về chính trị hay kinh tế không bình đẳng. Nếu như đối với chủ nghĩa thực dân cũ, công cụ chính trị và quân sự giữ vai trò chủ đạo thì đối với chủ nghĩa thực dân mới, vai trò đó thuộc về công cụ kinh tế, tài chính, kĩ thuật và thậm chí thông qua cả các tổ chức quốc tế. Nhiều chính phủ ở các nước đang phát triển và kém phát triển ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh vẫn thường xuyên chỉ trích WB, IMF là công cụ của Mỹ và phương Tây nhằm áp đặt các giá trị của mình, đặc biệt liên quan đến các vấn đề về tự do hóa, dân chủ, nhân quyền…Chủ nghĩa thực dân cũ thường dùng công cụ chính trị và sức mạnh quân sự để bóc lột kinh tế thì chủ nghĩa thực dân mới lại dùng công cụ kinh tế để bóc lột kinh tế và giữ nước đó phụ thuộc  vào chính trị. Đặc biệt, chủ nghĩa thực dân kiểu mới thường áp đặt hệ tư tưởng và thể chế lên nước khác, khiến nước này bị lệ thuộc về phương thức và đường lối phát triển. Về mục tiêu chiến lược, chủ nghĩa thực dân mới duy trì sự bóc lột ở các nước chậm phát triển (về tài nguyên thiên nhiên, nhân công rẻ mạt), biến các nước này thành nơi đầu tư và tiêu thụ hàng hóa cho các công ty của mình.

Mầm móng chủ nghĩa thực dân mới đã xuất hiện từ cuối thế kỉ XIX đầu XX với sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân kiểu Mỹ. Trong thời kì này, vấn đề phân chia thuộc địa giữa các đế quốc truyền thống đã kết thúc. Mỹ muốn dùng hình thức thực dân linh hoạt hơn, dùng sức mạnh về kinh tế và tài chính để ràng buộc những nước vừa mới giành được độc lập về chính trị. Mỹ đã tiến hành triển khai chính sách này ở khu vực Mỹ Latinh sau khi các nước ở đây thoát khỏi ách thống trị của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; biến khu vực này trở thành “sân sau” của Mỹ. Hiện tại, Trung Quốc cũng đang có ý đồ tương tự Mỹ song thực hiện ở Châu Phi.

Bằng các công cụ tuyên truyền và được che đậy bởi các chính sách mềm dẻo, dễ dãi, Trung Quốc đã dễ dàng lấy lòng một số chính phủ ở châu Phi và một số nước châu Phi đã tỏ thái độ ủng hộ mô hình phát triển mới này của Trung Quốc.