Một số lý thuyết về thương mại có thể vận dụng trong lĩnh vực nông nghiệp

Những lý thuyết về thương mại quốc tế đã được trình bày trong nhiều loại sách khác nhau. Trong mục này, xin nêu tóm tắt một số lý thuyết có thể làm nền tảng lý luận cho sự phát triển và nghiên cứu về thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp.

1-    Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A Smith.

Trước khi chủ nghĩa tư bản trở thành một chế độ thống trị trên thực tế, hầu như mọi người, trong đó có cả các nhà kinh tế học, đã coi thương mại không phải là ngành tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Theo họ, chỉ có hai ngành, nông nghiệp và công nghiệp, mới sản xuất ra của cải vật chất. Do vậy, lợi nhuận có được trong hoạt động thương mại, về thực chất, chỉ là sự dịch chuyển từ người này sang người khác, đó là quá trình móc túi lẫn nhau. Vì vậy, trong hoạt động thương mại, khi người này được lợi, thì người kia phải bị thiệt, phần được của người này là phần mất của người kia.

Trong bối cảnh đó, A. Smith đã chứng minh rằng, quá trình thương mại dựa trên cơ sở chuyên môn hoá theo lợi thế, sẽ không cần tước đoạt lẫn nhau giữa các đối tác, mà vẫn tạo thêm lợi ích cho các tác nhân tham gia vào quá trình đó. Và vì vậy, thương mại cũng đã tạo thêm của cải vật chất cho xã hội, nó là ngành có lợi và cần thiết cho xã hội. Tư tưởng đó được thể hiện thông qua việc đưa ra và luận giải thí dụ về trao đổi quốc tế có tính kinh điển sau đây:

Thí dụ 1: giả sử có hai quốc gia, A và B, cùng chi ra 100 giờ lao động để sản xuất mỗi loại sản phẩm gạo và than. Kết quả sản xuất ở mỗi quốc gia như sau:

Quốc gia A sản xuất được 100 tấn gạo và 200 tấn than Quốc gia B sản xuất được 80 tấn gạo và 400 tấn than.

Nếu không có thương mại quốc tế, sức sản xuất chung của cả hai quốc gia sẽ là 180 tấn gạo và 600 tấn than. Khi có thương mại quốc tế, quốc gia A sẽ chuyên môn hoá sản xuất gạo, quốc gia B sẽ chuyên môn hoá sản xuất than. Khi đó sức sản xuất chung của cả hai quốc gia sẽ là 200 tấn gạo và 800 tấn than. So với trước khi có thương mại trên cơ sở chuyên môn hoá theo lợi thế, rõ ràng lợi ích của xã hội đã tăng thêm, mặc dù tổng chi phí sản xuất tính theo giờ lao động không đổi.

Trong thí dụ trên, đã có những giả định rằng: lượng cung – cầu sản phẩm của cả gạo và than luôn cân bằng, kể cả trước cũng như sau khi có thương mại quốc tế; chưa tính đến chi phí hoạt động thương mại nói chung trong quá trình trao đổi sản phẩm giữa hai quốc gia; và thương mại hoàn toàn tự do.

Chuyên môn hoá theo cách thức nói trên được gọi là chuyên môn hoá theo lợi thế tuyệt đối. Tức là bằng cách so sánh lợi thế một cách trực tiếp của cùng một loại sản phẩm giữa hai quốc gia khác nhau để xác định được quốc gia nào có lợi thế, lấy kết quả so sánh đó để xác định hướng chuyên môn hoá sản xuất. Trong thí dụ trên chúng ta thấy, quốc gia A có lợi thế một cách tuyệt đối về sản xuất gạo so với quốc gia B; ngược lại, B có lợi thế tuyệt đối về sản xuất than so với A.

Nói chung, khi nước này có lợi thế tuyệt đối về sản xuất sản phẩm này, nước kia lại có lợi thế tuyệt đối về sản xuất sản phẩm khác, thì việc xác định sản phẩm chuyên môn hoá để trao đổi là tương đối rõ ràng và dễ dàng. Trên thực tế, không phải lúc nào và ở đâu cũng dễ dàng như vậy. Tình hình sẽ phức tạp hơn, nếu quốc gia A có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia B không chỉ ở việc sản xuất sản phẩm gạo, mà còn cả ở sản xuất sản phẩm than. Tình hình này diễn ra khá phổ biến trong mối quan hệ giữa những quốc gia phát triển và những quốc gia chậm phát triển. Nếu chỉ thực hiện được trao đổi thương mại quốc tế khi có lợi thế tuyệt đối, thì sẽ không thể giải thích được hoạt động thương mại vẫn phát triển giữa các quốc gia phát triển (có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hầu hết các sản phẩm) với các quốc gia chậm phát triển (hầu hết các sản phẩm sản xuất ra đều ở thế bất lợi). Lý thuyết của Đavid Ricardo sẽ giúp chúng ta giải thích được động lực của mối quan hệ đó.

2-    Lý thuyết về lợi thế tương đối của Đavid Ricardo.

Nội dung cốt lõi của lý thuyết này có thể phát biểu:

Khi thực hiện giao thương trên cơ sở chuyên môn hoá, nếu quốc gia này có lợi thế tuyệt đối ở việc sản xuất mọi sản phẩm, còn đối tác lại yếu thế ở việc sản xuất mọi sản phẩm, thì quốc gia thứ nhất nên chọn những sản phẩm có lợi thế lớn nhất để chuyên môn hoá, còn quốc gia thứ hai nên chọn những sản phẩm ít bất lợi nhất để chuyên môn hoá.

Có thể phân tích thí dụ thứ hai sau đây để hiểu rõ lý thuyết của  Đavid Ricardo.

Thí dụ 2: cũng với những giả định như thí dụ 1, nhưng với kết quả sản xuất được thể hiện như sau:

Với tình hình như trong thí dụ 2, theo nguyên lý của lý thuyết D.Ricardo, thì quốc gia A nên chuyên môn hoá sản xuất than, ngược lại, quốc gia B nên chuyên môn hoá sản xuất gạo. Theo hướng đó, quốc gia A sẽ dành toàn bộ nguồn lực là 200 giờ lao động, thay vì để sản xuất cả gạo và than, để sản xuất than; còn quốc gia B sẽ dành toàn bộ 200 giờ lao động để sản xuất gạo. Khi đó, sức sản xuất chung của xã hội sẽ là 800 tấn than và 160 tấn gạo. Nếu so với trước khi chuyên môn hoá, thì sản phẩm than tăng thêm 200 tấn, sản phẩm gạo bị giảm đi 20 tấn. Tuy vậy, nếu qui đổi 200 tấn than thành gạo (xét về mặt giá trị) theo tỷ lệ trao đổi hiện hành (800/160), thì lượng 200 tấn than đó tương đương với 40 tấn gạo. Như vậy, khi bù trừ cho nhau, tổng giá trị sản phẩm của xã hội khi có chuyên môn hoá vẫn tăng lên với lượng tương đương 20 tấn gạo so với khi không có chuyên môn hoá.

Khi nghiên cứu thí dụ thứ hai, cũng cần có những giả định như thí dụ 1 và cũng cần lưu ý rằng, mức độ chuyên môn hoá trên thực tế sẽ không hoàn toàn như thí dụ đã đưa ra. Mục đích của việc đưa ra và phân tích thí dụ 2 là để hiểu nguyên lý trong lý thuyết về lợi thế của D.Ricardo, và để khẳng định rằng, ngay cả đối với một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong quan hệ với đối tác, vẫn có thể tham gia vào quan hệ giao thương với đối tác. Nguyên lý đó giúp ta giải thích được quan hệ giữa những quốc gia có trình độ năng suất lao động cao với những quốc gia có trình độ năng suất lao động thấp. Đồng thời, có thể khẳng định rằng, nếu xét về mặt kinh tế và xét trong dài hạn thì luồng hàng trao đổi giữa các quốc gia sẽ luôn là luồng hàng hai chiều.

Phương thức chuyên môn hoá theo kết quả so sánh mức lợi thế giữa hai sản phẩm khác nhau trong cùng một quốc gia như trên, gọi là chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tương đối. Thương mại trên cơ sở đó, gọi là thương mại trên cơ sở lợi thế tương đối.

Qua hai thí dụ nêu trên, có thể khẳng định rằng thương mại quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá theo lợi thê (cả tương đối lẫn tuyệt đối) đều làm tăng thêm lợi ích của xã hội : cũng có thể khẳng định rằng, mọi quốc gia trên thế giới đều có thể tham gia vào quá trình thương mại toàn cầu, và sự tham gia đó sẽ góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội nói chung. Tuy nhiên, sự phân phối lợi tích đó như thế nào, và do đó, mức lợi ích mà mỗi tác nhân nhận được là lớn hay nhỏ, sẽ phụ thuộc vào nhiều nhân tố kinh tế – chính trị – xã hội khác nhau. Lý thuyết của John Stunart Mill sẽ góp phần lý giải vấn đề đó.

3-    Lý thuyết về “giá trị quốc tế” của John Stunart Mill.

Trên cơ sở lý thuyết của D.Ricard, J.S.Mill đã chỉ ra rằng: nếu một quốc gia có sản phẩm có mức ưa chuộng ở quốc gia đối tác lớn hơn mức ưa chuộng về sản phẩm của đối tác ở quốc gia mình, thì quốc gia đó sẽ thu được nhiều lợi hơn trong quá trình giao thương. Trên cơ sở thí dụ 2, chúng ta tính ra bảng giá trị trao đổi dưới đây để phân tích:

A.  Theo nguyên lý của lý thuyết về lợi thế tương đối của D.Ricardo, khi hai quốc gia thực hiện giao thương thì một lượng gạo của quốc gia B sẽ đổi được Q than của quốc gia A. Khi đó Q được xác định trong khoảng từ trên 2,5 đến dưới 4 (2,5<Q<4). Vì rằng, quốc gia A khi chuyên môn hoá sản xuất than, sẽ hy vọng rằng sẽ cần ít hơn 4 than cũng đổi được 1 gạo; ngược lại, quốc gia B khi chuyên môn hoá sản xuất gạo, sẽ hy vọng sẽ đổi 1 gạo được nhiều hơn 2,5 than. Trong trường hợp nếu 1 gạo đổi được 4 than thì quốc gia A sẽ tự làm lấy gạo; nếu Q = 2,5 thì B sẽ tự sản xuất lấy than. Giả sử 1 gạo đổi được các mức: 2,5; 3,0; 3,25; 3,5 và 4,0 than, ta có bảng lợi ích sau đây:

Qua bảng lợi ích trên, chúng ta thấy, ở tình huống thứ 1 và 2, lợi ích nghiêng về quốc gia A; ở tình huống 3, lợi ích cân bằng; còn ở hai tình huống 4 và 5, lợi ích nghiêng về quốc gia B. Nếu tại quốc gia A, gạo của quốc gia B được ưa chuộng hơn mức ưa chuộng của quốc gia B về than của quốc gia A, thì A có thể trả giá cao hơn cho gạo của B. Khi đó quốc gia B sẽ thu được nhiều lợi hơn trong giao thương với quốc gia A.

Theo cách suy luận trên, J.S.Mill đã kết luận rằng: trong quan hệ giữa các nước giàu và các nước nghèo, thì nhóm nước nghèo thường thu được nhiều lợi hơn, vì nhóm nước giàu sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm mua từ nước nghèo. Tuy nhiên, trái với cách suy luận của J.S.Mill, một số khác lại cho rằng, trong mối quan hệ trên, đa phần các nước nghèo thường bị các nước giàu áp đặt về giá cả (có thể do thế mạnh về kinh tế của các nước giàu, có thể do các nước nghèo bị thiếu thông tin…), do vậy, các nước nghèo thường phải chịu phần thua thiệt. Bạn đọc có thể tìm hiều kỹ hơn về vấn đề này, bằng cách tìm đọc các lý thuyết khác, cũng như tìm hiểu trên thực tế quan hệ lợi ích giữa các nước giàu với các nước nghèo trong quan hệ thương mại quốc tế.

Trên thực tế, bên cạnh việc thúc đẩy tự do hóa thương mại các mặt hàng có lợi thế áp đảo, mỗi năm các nước giàu trên thế giới chi từ 370 tỷ đến 400 tỷ USD cho trợ cấp nông nghiệp. Đồng thời họ còn áp đặt biểu thuế cao đối với nông sản nhập khẩu – là nhóm hàng xuất khẩu chiếm tới 70% kim ngạch xuất khẩu tại các nước đang phát triển. Ngân hàng thế giới ước tính nếu thực hiện tự do hoá thương mại đối với nông sản, có thể làm tăng giá trị nông sản xuất khẩu cho các nước đang phát triển khoảng 30 đến 100 tỷ USD, tạo điều kiện cho nhiều quốc gia với khoảng trên 1 tỷ người thoát cảnh nghèo đói (Tạp chí công sản, số 2/2001, trang 27).

4-    Lý thuyết về tài nguyên thiên nhiên đối với thương mại quốc tế của Eli Heckkchers – Bertil Ohlin (H-O).

Trong nền kinh tế hàng hoá vận hàng theo cơ chế thị trường, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, tất nhiên, cũng trở thành hàng hoá. Nguyên lý của lý thuyết của H-O được phát biểu: một số quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng tương đối nhiều các yếu tố đầu vào sẵn có và rẻ. Họ sẽ nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần những các yếu tố đầu vào khan hiếm và đắt. Nói cách khác, thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy các quốc gia xuất khẩu những yếu tố đầu vào tương đối sẵn có và rẻ dưới hình thức những sản phẩm hàng hoá khác hoặc xuất khẩu trực tiếp những yếu tố đó. Quá trình đó đã làm tăng lượng cầu về những yếu tố sẵn có và rẻ, do vậy, giá của những yếu tố này sẽ được đẩy dần lên. Đồng thời, việc nhập khẩu những yếu tố khan hiếm và đắt, dù là trực tiếp hay gián tiếp dưới dạng hàng hoá khác, sẽ góp phần kéo được giá của những yếu tố này và những sản phẩm có liên quan xuống dần.

Như vậy, xét về xu hướng, thương mại quốc tế sẽ góp phần san bằng chênh lệch về giá cả những yếu tố đầu vào của sản xuất những hàng hoá tiêu dùng cuối cùng. Quá trình đó đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc tế nói chung. Về thực chất, lý thuyết H-O là sự cụ thể hoá lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith cũng như lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ruardo không chỉ đối với hàng hoá tiêu dùng, mà còn cả đối với các yếu tố vật tư đầu vào của quá trình sản xuất. Điều này, giúp cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô có được cái nhìn toàn diện hơn về tiềm năng cũng như hạn chế trong khả năng xuất khẩu của mỗi quốc gia. Đối với các doanh nghiệp, việc phân tích khả năng xuất khẩu cần phải được phân tích, đánh giá ở tất cả các khâu, các sản phẩm có liên quan. Trong đó, các yếu tố đầu vào của sản xuất rất cần được xem xét chu đáo.

Lý thuyết của H-O dựa trên hai giả định quan trọng sau đây:

Thứ nhất, việc sản xuất các sản phẩm khác nhau sẽ cần các yếu tố đầu vào với tỷ lệ khác nhau. Thí dụ mà thuyết này thường nêu ra là, so sánh việc sản xuất ô tô ở các nước phát triển với việc sản xuất lương thực, thực phẩm ở các nước chậm phát triển. Tỷ lệ các yếu tố đầu vào mà thuyết này so sánh là tỷ lệ giữa các lao động và vốn. Theo lý thuyết H-O, việc sản xuất ô tô sẽ tốn nhiều vốn hơn là lao động, và ở các nước phát triển yếu tố vốn được coi là sẵn có và rẻ, trong khi lao động được coi là yếu tố khan hiếm và đắt. Trong khi đó, việc sản xuất các loại nông sản thường tốn ít vốn hơn là lao động, và ở các nước chậm phát triển vốn được coi là yếu tố khan hiếm, còn lao động được coi là yếu tố tương đối sẵn có và rẻ. Do vậy, các nước chậm phát triển nên sản xuất và xuất khẩu nông sản sang các nước phát triển, ngược lại, các nước phát triển sẽ sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp để nhập khẩu nông sản.

Thứ hai, các quốc gia khác nhau thường có những yếu tố sẵn có khác nhau. Một số quốc gia như Đức, Mỹ có tỷ số vốn/lao động rất cao, trong khi những quốc gia khác, như ấn Độ chẳng hạn, lại có tỷ số đó rất thấp. Điều này có nghĩa là, Mỹ thì sẵn có và dư thừa vốn, thiếu lao động; ngược lại, ấn Độ lại khan hiếm vốn và thừa lao động. Do vậy, trong quan hệ thương mại, Mỹ nên sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cần nhiều vốn, còn ấn Độ nên sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cần nhiều lao động.

5-    Lý thuyết của Myin về giải thoát lượng tồn dư.

Theo Myin (1958), thì ở các nước chậm phát triển, thị trường chưa hoàn chỉnh. Do đó, các chức năng của thị trường đối với quá trình sản xuất thường chưa bộc lộ hết, đặc biệt là chức năng thông tin. ở các nước đó, giá cả chưa phải là tín hiệu hữu hiệu để đưa các tài nguyên vào sản xuất một cách hợp lý.

Thí dụ, tại Việt Nam, giá cả nông sản chưa phản ánh tình hình cầu về nông sản trên toàn thế giới, lấy giá sản phẩm cà phê làm thí dụ. Nếu là nền kinh tế đóng cửa, rõ ràng việc tiêu thụ cà phê không phải là thị hiếu phổ biến của dân cư Việt Nam. Do đó, có thể giá sản phẩm cà phê trên thị trường không cao. Với mức giá đó, sẽ không khuyến khích việc khai thác hàng trăm ngàn héc ta đất vùng trung du, cao nguyên, miền núi để trồng cà phê. Tuy nhiên, trên thực tế, mặc dù dân cư Việt Nam ít uống cà phê, do vậy mà lượng cà phê tiêu thụ trên thị trường nội địa không đáng kể, nhưng đến năm 2000, Việt Nam đã có trên 413 ngàn héc ta cà phê. Có được diện tích cà phê lớn như vậy, là nhờ tín hiệu giá cả quốc tế đã phát huy chức năng của nó ở Việt Nam. Hàng trăm ngàn héc ta đất vùng cao đó, nếu không có thương mại quốc tế, chắc chắn sẽ vẫn còn ở trạng thái “nằm ngủ” mà thôi.

Từ nguyên lý của lý thuyết của H-O, cũng như từ thực tiễn hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản trên thế giới, có thể suy luận ra rằng: khi có thương mại quốc tế tác động vào nền kinh tế của mỗi quốc gia, sẽ làm tăng mức cầu khai thác các yếu tố đầu vào của sản xuất, mà những yếu tố này đang ở trạng thái “nằm ngủ”. Đó là những yếu tố tương đối sẵn có và rẻ, do cầu của thị trường trong nước còn yếu. Đồng thời với quá trình tăng cầu khai thác những yếu tố đầu vào đang trong trạng thái “nằm ngủ”, thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp cũng sẽ làm tăng mức cầu chung của thị trường nội địa, nhờ thu nhập của dân cư tăng lên khi tham gia sản xuất và xuất khẩu nông sản.

Sau khi nghiên cứu một cách vắn tắt 5 lý thuyết về thương mại quốc tế, có thể ứng dụng vào nông nghiệp, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

Thứ nhất, thương mại quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá theo lợi thế đã làm tăng thêm lợi ích cho xã hội trên bình diện quốc tế.

Thứ hai, lợi ích của các tác nhân tham gia vào quá trình thương mại quốc tế không nhất thiết cân bằng. Tức là, phần lợi nhiều hay ít có thể nghiêng về một bên nào đó, tuỳ thuộc vào các nhân tố chi phối quá trình thương mại.

Thứ ba, có thể coi những lý thuyết nói trên là cơ sở lý luận để bênh vực cho xu hướng tự do hoá thương mại trên phạm vi quốc tế, mà xu hướng đó đã và đang diễn ra ngày càng rõ nét trong đời sống kinh tế thế giới. Xu hướng tự do hoá thương mại là một trong những nội dung quan trọng của xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.

Thứ tư, do tự do hoá thương mại quốc tế ngày đang trở thành xu thế tất yếu, nên các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cần chủ động trong nhận thức qui luật và có bước đi thích hợp trong quá trình hội nhập xu thế đó, làm sao để quá trình từng bước tự do hoá thương mại đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất ở Việt Nam.

Thứ năm, những nguyên lý trên là cơ sở lý thuyết để mỗi người Việt Nam thêm tin tưởng vào đường lối mở cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • năng suất lao động thấp thì giao thương lợi ích thấp
  • ,