Một số quan điểm về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý giá ở Việt Nam

 

Trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam, việc đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý giá hiện nay cần phải dựa trên các quan điểm sau:

1: Thực hiện tự do hoá thị trường và giá cả

Đây là một quan điểm mang tính tiền đề. Bởi vì, một mặt, không tự do hoá thị trường thì không có sản xuất hàng hoá thực sự, không phát huy đầy đủ mặt tích cực của kinh tế hàng hoá, không đảm bảo sự hoạt động khách quan của các quy luật vốn có của nó. Mặt khác, không có tự do hoá thị trường cũng không làm bộc lộ đầy đủ những mâu thuẫn, những hạn chế nội tại của kinh tế thị trường, mà chính sách và cơ chế quản lý giá của nhà nước lại phải hướng vào giải quyết những vấn đề đó.

Quan điểm này cũng đòi hỏi việc thể chế hoá mọi điều kiện đảm bảo cho sự hoạt động khách quan của kinh tế thị trường mà cốt lõi của nó là sự tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể sản xuất hàng hoá theo đúng luật định. Tuy nhiên, khi thừa nhận tự do hoá thị trường và giá cả, đồng thời cũng phải thừa nhận sự quản lý của nhà nước đối với thị trường và giá cả. Vì chỉ có nhà nước mới là yếu tố trung gian đảm bảo cho sự tự do hoá thị trường, tự do hoá giá cả. Như vậy, việc thực hiện hoá quan điểm này đòi hỏi một là, nhà nước phải can thiệp vào những quan hệ mất tự do, mất bình đẳng của thị trường. Hai là, cần chống mọi sự can thiệp làm triệt tiêu tính tự do. Mọi hoạt động của nhà nước, của các chủ thể kinh doanh, của quan hệ thị trường phải được thể chế hoá thành luật. Từ đó, chính sách và cơ chế quản lý giá của nhà nước phải được đặt trong khuôn khổ của sự nhận thức đúng đắn và tôn trọng các quy luật khách quan của thị trường chi phối sự hình thành và vận động của giá cả thị trường và phải thông qua hệ thống luật, trong đó, có luật quản lý thị trường và giá cả, để điều hành giá thị trường. Bên cạnh đó, tự do hoá thị trường còn bao hàm cả việc sớm xoá bỏ sự bao cấp qua giá, qua vốn, xây dựng và triển khai các điều kiện để hình thành các thị trường vốn, lao động, tài nguyên, tạo mọi điều kiện để phát huy cạnh tranh lành mạnh, chống mọi xu thế độc quyền và liên minh độc quyền.

2: Chính sách và cơ chế quản lý giá của nhà nước phải luôn hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ

Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Bản chất của kinh tế thị trường bao hàm hai mặt, mặt tích cực và mặt tiêu cực. Chính sách và cơ chế quản lý giá cần phải hướng vào mặt tích cực như thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, hiệu quả kinh tế cao, đồng thời phải khắc phục mặt tiêu cực như phân hoá giàu nghèo, phân hoá thành thị và nông thôn, đề cao lợi ích cục bộ.

Quán triệt quan điểm này, trong thời gian trước mắt, chính sách và cơ chế quản lý giá phải hướng vào những nội dung cơ bản là: bảo đảm ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, bảo đảm sự ổn định giá cả, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, từng bước thúc đẩy sự hội nhập của kinh tế và giá cả trong nước với kinh tế và giá cả trên thị trường thế giới, thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất và tiêu dùng trong những trường hợp cần thiết.

3: Chính sách và cơ chế quản lý phải được đặt trong một tổng thể các giải pháp đồng bộ

Giá cả luôn là một hiện tượng kinh tế tổng hợp. Nó có mối liên hệ nhân quả với nhiều hiện tượng và giải pháp kinh tế khác. Do đó, giá cả có thể xem như tín hiệu thị trường của một quá trình kinh tế hay của một tổng thể các giải pháp kinh tế. Lịch sử phát triển kinh tế và công cuộc cải cách giá của nước ta đủ để chúng minh rằng sẽ không có sự phát triển kinh tế lành mạnh nếu như không có sự ổn định về giá cả. Nhưng cũng sẽ không có được sự ổn định về giá cả nếu như không có một chính sách tiền tệ đúng đắn, mà mục tiêu của nó là đẩy mạnh phát triển sản xuất, chống lạm phát và củng cố sức mua của đồng tiền. Vì vậy trong quản lý kinh tế và quản lý giá cả, phải thông qua tín hiệu giá cả thị trường để giải quyết đồng bộ các giải pháp khác nhằm đạt mục tiêu của quản lý vĩ mô nói chung và quản lý giá cả nói riêng.

Quán triệt quan điểm này cũng có nghĩa là quản lý giá cả phải hướng vào việc quản lý các nhân tố hình thành nên giá cả. Giá cả chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều các nhân tố kinh tế – xã hội. Mức độ tác động của từng nhân tố tới giá cả rất khác nhau. Không nên quan niệm rằng, quản lý giá cả chỉ là sự can thiệp trực tiếp vào mức giá, mà nó còn bao hàm cả sự quản lý gián tiếp thông qua các nhân tố tác động đến sự hình thành và vận động của giá thị trường chẳng hạn như lượng cung, cầu, mức biểu thuế, lượng xuất nhập khẩu…Quan điểm đó cũng có thể đặt ra ngay cả với loại giá cần bảo hộ. Tất nhiên, trong điều hành cụ thể phải tuỳ từng thời kỳ, từng loại hàng, từng hình thái thị trường và quy luật hình thành giá cả để lựa chọn tác động vào nhân tố nào nhằm thực hiện được mục tiêu quản lý giá.

4: Mức độ và hình thức can thiệp của nhà nước tới giá cả thị trường phải tuỳ thuộc vào vị trí của từng loại hàng hoá

Hình thức quản lý giá trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam chủ yếu là hình thức gián tiếp. Có nghĩa là đối với tuyệt đại bộ phận danh mục hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân, việc hình thành giá cả của chúng là do sự thoả thuận giữa bên mua và bên bán. Nhà nước thực hiện sự quản lý gián tiếp thông qua việc tác động vào quan hệ cung cầu trong những trường hợp cần thiết, nhằm đảm bảo cho sự hình thành và vận động của giá cả đi theo đúng hành lang của những mục tiêu kinh tế – xã hội, mục tiêu quản lý giá đã đặt ra.

Đối với những hàng hoá giữ vị trí quan trọng trong sản xuất hoặc tiêu dùng, giá cả dễ biến động hoặc dễ bị các doanh nghiệp thao túng. Trước mắt, nhà nước có thể quy định giá sàn để định hướng cho việc quản lý giá và điều khiển thị trường. Song về lâu dài, phải khuyến khích cạnh tranh, cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân. Riêng đối với lĩnh vực kinh doanh độc quyền, nhà nước có thể tìm cách phá thế độc quyền hoặc có thể tiến hành định mức giá cụ thể một cách trực tiếp, kèm theo một chính sách thuế luỹ tiến nghiêm ngặt. Ngoài ra, trong việc quản lý giá cả và thị trường nói chung, cần kết hợp hài hòa giữa giải pháp giá và thuế một cách linh hoạt.

5: Cần hoàn thiện và nâng cao quyền lực của bộ máy tổ chức quản lý giá

Để đảm bảo cho chính sách và cơ chế quản lý giá mới thực sự đi vào cuộc sống và phát huy tính tích cực đối với nền kinh tế quốc dân, cần phải hoàn thiện và nâng cao quyền lực của bộ máy tổ chức quản lý giá. Đồng thời, chức năng và nhiệm vụ của bộ máy đó cũng cần thiết phải thay đổi theo hướng giảm việc định giá trực tiếp, tăng cường thanh tra, kiểm tra giá, tư vấn, hướng dẫn và thông tin giá cả và thị trường.