Một số vấn đề chung về TTCK và CTNY trên TTCK tác động tới BCTC

2.1.1.1.    TTCK

Theo Luật Chứng Khoán của Việt Nam, Số 70/2006/QH11 và Luật bổ sung sửa đổi số 62/2010/QH12, “TTCK là một thị trường có tổ chức, nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán được niêm yết

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, TTCK được phân chia cụ thể như sau

  • Căn cứ vào quá trình lưu thông chứng khoán: TTCK bao gồm các thị trường sơ cấp thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp là nơi phát hành lần đầu của chứng khoán. Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán đã phát hành thông qua thị trường sơ cấp.
  • Căn cứ vào phương thức giao dịch chứng khoán: TTCK bao gồm thị trường tập trung thị trường phi tập trung. Thị trường tập trung là nơi các chứng khoán được mua bán tại Sở Giao dịch chứng khoán hay Trung tâm giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung (bao gồm: thị trường không qua quầy – OTC và thị trường giao dich “trao tay”.

– Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch chứng khoán: TTCK bao gồm thị trường trao ngay, thị trường giao dịch kỳ hạn thị trường giao dịch tương lai. Thị trường trao ngay là nơi diễn ra hoạt động thanh toán và giao nhận chứng khoán sau đó một hoặc   hai ngày. Thị trường giao dịch kỳ hạn là nơi diễn ra hoạt động thanh toán và giao nhận chứng khoán trong khoảng thời gian nhất định theo quy định của hợp đồng. Thị trường giao dịch tương lai là nơi diễn ra hoạt động thanh toán và giao nhận chứng khoán với một kỳ hạn nhất định trong tương lai.

2.1.1.2.   CTNY trên TTCK

Khái niệm CTNY

Theo điều 25 của Luật chứng khoán năm 2010 của Việt Nam, quy định các loại hình doanh nghiệp gồm: Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. “CTNY là dạng công ty cổ phần đại chúng có cổ phiếu niêm yết trên TTCK. Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Trong công ty cổ phần,  số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là  cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu”.

Đặc điểm của CTNY tác động đến BCTC

Những đặc điểm sau của CTNY có tác động đến BCTC như sau:

– Về số lượng cổ đông: CTNY là công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán khi có nhu cầu tăng vốn dưới hai dạng là cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng. CTNY có số lượng chủ sở hữu (cổ đông) lớn hơn so với nhiều loại công ty khác. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005, CTNY phải có tối thiểu 3 cổ đông, bất kể đó là  pháp nhân hay thể nhân. Số lượng cổ đông của CTNY  khá phức tạp về số lượng và  thay đổi theo từng thời điểm nên rất khó kiểm soát;

  • Về cơ chế quản lý: Hoạt động của CTNY chịu sự quản lý từ nhiều hệ thống pháp lý trong và ngoài công ty. Ngoài ra, CTNY còn phải chịu sự kiểm soát rất chặt  chẽ từ bên ngoài như từ UBCK, từ các sở giao dịch chứng khoán, từ cơ quan thuế và  các nhà đầu tư. CTNY có cơ chế quản lý tập trung cao, có sự phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Các CTNY phải xây dựng và thực hiện KSNB rất chặt chẽ các hoạt động trong công ty để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và kỳ vọng của các nhà đầu tư cũng như nhà đầu tư trên TTCK. Tuy nhiên, có thể sẽ xảy ra  hành vi gian  lận BCTC do xung đột lợi ích giữa BLĐ các cổ đông , hoặc giữa nhóm cổ đông lớn và cổ đông nhỏ. Điều này làm ảnh hưởng đến những đối tượng quan tâm tới thông tin BCTC nhất là NĐT vì các quyết định của NĐT đối với cổ phiếu của CTNY chủ yếu  dựa trên thông tin do chính CTNY cung cấp theo luật định. Chính vì thế tạo nên áp lực rất lớn trong việc quản lý CTNY.
  • Về điều kiện niêm yết: CTNY muốn được niêm yết chứng khoán trên sàn giao dịch thì phải tuân thủ các điều kiện niêm yết chặt chẽ về vốn điều lệ, số lượng cổ đông, hiệu quả hoạt động kinh doanh… Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam quy định, công ty cổ phần phải có vốn điều lệ từ 80 tỷ trở lên, kết quả kinh doanh có lãi 2 năm liền trước khi niêm yết, tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ…[11]. Sàn giao dịch chứng khoán Mỹ ( NASDAQ) quy định điều kiện niêm yết là các công ty cổ phần phải có vốn từ 15 triệu USD trở lên, số lượng cổ đông tối thiểu là 400 người, giá trị thị trường là 75 triệu USD…
  • Về việc công khai thông tin: Đối với các nước phát triển trên thế giới, quy định công bố thông tin trên BCTC là bắt buộc đối với các CTNY . Việc công khai  hóa  thông tin nói chung và thông tin tài chính nói riêng của CTNY phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về chế độ tài chính kế toán và quy định của TTCK. Các quốc gia thường quy định về công bố thông tin nhất quán trong BCTC để đảm bảo người sử dụng thông tin có thể dễ dàng tìm kiếm giữa các BCTC khác nhau và còn quy định cụ thể các loại thông tin phải cung cấp yêu cầu các CTNY bắt buộc thực hiện đầy đủ nhằm giúp cho đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC theo dõi được thông tin cần thiết và yêu cầu CTNY phải bổ sung nếu cần thiết. Tùy thuộc quy định của từng sàn chứng khoán quốc gia, việc quy định về nội dung thông tin công khai, thời gian công khai của các CTNY sẽ có những điểm cụ thể khác
  • Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của các CTNY rất phức tạp và phong phú: Các CTNY có thể tham gia vào nhiều loại ngành nghề kinh doanh dẫn đến rủi ro cao trong các hoạt động quản lý. Các CTNY thường có quy mô lớn và thường hoạt động  đa ngành nghề, dịch vụ, tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh, bao gồm cả lĩnh vực đầu tư nhiều rủi ro như đầu tư tài chính,  vì thế các chỉ tiêu trên BCTC  thường phản  ánh các nghiệp vụ phức tạp, đặc biệt là đối với các BCTC hợp nhất của các công ty mẹ có nhiều hệ thống các công ty con. Ngoài ra, Các CTNY hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực ngành nghề khác Phổ biến là doanh nghiệp hoạt động đa ngành với lĩnh vực kinh doanh chính là công nghiệp chế tạo, chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất ( như  các doanh nghiệp có mã chứng khoán KDC, AAM, BBC), tiếp đến các ngành kinh doanh thương mại (DIC, HTL), bất động sản (DIG,NBB),  xây dựng ( CDC, HBC),   vận tải kho bãi ( PVT, DXG), tài chính – ngân hàng và bảo hiểm (STB, SSI). Nhiều ngành nghề kinh doanh của CTNY khá phức tạp, nghiệp vụ phát sinh thường xuyên nhiều, hàng tồn kho vật chất lớn. Đặc điểm này dẫn đến BCTC của CTNY thường có nhiều chỉ tiêu phức tạp, đặc thù theo chuyên ngành, với nhiều ước tính kế toán,  dẫn  đến việc phát hiện hành vi gian lận BCTC của các CTNY gặp khó khăn, theo đó yêu  cầu các KTV phải có kinh nghiệm, quy trình kiểm toán chuyên nghiệp, KTV hiểu biết sâu đa lĩnh vực kinh doanh của CTNY.
  • CTNY thường có quy mô hoạt động khác nhau, có thể là các công ty mẹ với nhiều công ty con, đầu tư chéo, hoạt động trên quy mô rộng khắp cả nước, nhất là các ngành tài chính – ngân hàng – bảo hiểm ( STB, ACB), kinh doanh công  nghiệp,  thương mại ( BBC, DIC). Theo đó, các BCTC của các CTNY này phải bao gồm báo  cáo hợp nhất từ các công ty con, công ty liên kết. Điều này gây khó khăn cho việc hợp nhất BCTC, cũng như BCTC hợp nhất của CTNY, khiến cho KTV khó phát hiện được hành vi gian lận BCTC nếu xảy
  • Hệ thống KSNB của CTNY còn nhiều yếu điểm: Hệ thống KSNB của CTNY được đánh giá là còn nhiều điểm yếu dẫn đến chất lượng thông tin trên các BCTC chưa được kiểm toán vẫn còn chưa tốt. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều điểm chưa thống nhất giữa KTV và ban lãnh đạo CTNY trong việc hạch toán, ghi nhận các khoản mục kế toán. Điều này thể hiện, hệ thống KSNB CTNY yếu khiến cho chất lượng thông tin trên BCTC có khả năng tiềm ẩn nhiều sai sót, dẫn đến công việc kiểm toán gặp nhiều khó khăn hơn, qua đó có thể ảnh hưởng tới việc phát hiện và kiểm soát các hành vi gian lận BCTC. Do vậy, để kiểm soát được hành vi gian lận BCTC, cần có phương pháp tiếp cận rủi ro phù hợp cũng như thận trọng cần thiết    trong việc đánh giá các bằng chứng do CTNY cung cấp.
Đặc điểm BCTC của CTNY
  • BCTC của CTNY đòi hỏi tính minh bạch cao và rất nhạy cảm : Thông tin trên BCTC của CTNY nhận được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng, không chỉ là chính ban lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà quản lý (cơ quan thuế, UBCKNN…); các  nhà cung cấp, các đối tác liên danh, liên kết; các nhà cung cấp tín dụng, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức (các quĩ đầu tư, các công ty chứng khoán, các chuyên gia phân tích tài chính, cổ đông và cộng đồng các nhà đầu tư thuộc nhiều tầng lớp)… Đây cũng chính là áp lực đối với các CTNY khi kinh doanh thua lỗ có nguy cơ phá sản nhưng CTNY vẫn muốn có một BCTC đẹp để làm hài lòng các nhà đầu tư. Tất cả những điều này có thể tạo nên động cơ để các CTNY thực hiện hành vi gian lận BCTC để đáp ứng các kỳ vọng này.
  • Việc theo dõi các chỉ tiêu trên BCTC khá phức tạp và thường xuyên có sự biến động: các CTNY có số lượng lớn cổ đông và thay đổi liên tục, nên ảnh hưởng tới việc phân phối lợi nhuận và theo dõi sổ sách cũng khá phức tạp; các chỉ tiêu chỉ có trên sổ sách và BCTC của CTNY như chỉ tiêu “thặng dư vốn cổ phần”, “cổ phiếu quỹ” trên BCĐKT; chỉ tiêu “lãi cơ bản trên một cổ phiếu” trên BCKQKD; hay “lợi ích của cổ đông thiểu số” trên các BCTC hợp nhất…; phần thuyết minh BCTC trở thành một bộ báo cáo quan trọng (trong khi đối với DN khác không được quan tâm nhiều)… Chính vì thế việc theo dõi các chỉ tiêu trên BCTC của các CTNY khá phức tạp, gặp nhiều    khó khăn, cũng là cơ hội để các CTNY có thể thực hiện hành vi gian lận BCTC vì mục đích tư lợi.
  • BCTC có nhiều chỉ tiêu phức tạp: Các CTNY thường có qui mô lớn và thường hoạt động đa ngành nghề, dịch vụ, tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh, bao gồm cả lĩnh vực đầu tư nhiều rủi ro như đầu tư tài chính, vì thế các chỉ tiêu trên BCTC thường phản ánh các nghiệp vụ phức tạp, đặc biệt là đối với các BCTC hợp nhất của  các công ty mẹ có nhiều hệ thống các công ty
  • BCTC của CTNY phải tuân thủ các qui định khắt khe hơn của TTCK, như: BCTC phải được công bố từng quí, 6 tháng, 1 năm và tuân thủ thời gian công  bố  thông tin nghiêm ngặt hơn so với các doanh nghiệp thông thường; BCTC phải được kiểm toán hàng năm (hoặc có thể phải chịu soát xét hàng quí hoặc 6 tháng 1 năm) bởi một tổ chức kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán CTNY (được chấp thuận kiểm toán bởi Ủy ban chứng khoán) trước khi công bố công khai; việc lập BCTC của CTNY ngoài việc tuân thủ chuẩn mực chung,  còn phải tuân thủ chuẩn mực kế  toán có thể dành  riêng cho các