Một số vấn đề thực tiễn lý luận trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa

1. Lý luận chung:

Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan, phổ biến: Một mặt, con người phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiên đó, quan hệ này dược biểu hiện ở lực lượng sản xuất, mặt khác, con người phải quan hệ với nhau để tiến hành sản xuất, quan hệ này được biểu hiện ở quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng của một thể thống nhất không thể tách rời – phương thức sản xuất – mỗi phương thức sản xuất đặc trưng cho một hình thái kinh tế – xã hội nhất định, và lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phương thức cũ lạc hậu tất yếu được thay thế bằng phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn. Trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định. Lực lượng sản xuất chẳng những là thước đo thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người mà còn làm thay đổi quan hệ giữa người với người trong sản xuất, thay đổi các quan hệ xã hội.

Tuy nhiên nếu lực lượng sản xuất là cái cấu thành nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử nhân loại, thì quan hệ sản xuất là cái tạo thành cơ sở kinh tế xã hội, là cơ sở thực hiện hoạt động sản xuất tinh thần của con người của toàn bộ những quan hệ tư tưởng, tinh thần và những thiết chế tương ứng trong xã hội.

C.Mác đã đưa ra kết luận rằng: xã hội loài người phát triển trải qua nhiều giai đoạn của sự phát triển đó là sự vận động theo hướng tiến lên của các hình thành kinh tế xã hội, là sự thay thế hình thái kinh tế này bằng hình
thái kinh tế – xã hội khác cao hơn mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.
Rằng sự vật và phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là do tác động của các quy luật khách quan.

Ph. Ang – ghen khẳng định “Lịch sử từ xưa đến nay đã tiến triển theo một quá trình tự nhiên, và về căn bản cũng bị chi phối bởi quy luật vận động như nhau”. Dẫu luôn giữ quan niệm coi sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên, bị chi phối bởi quy luật như nhau và “một xã hội ngay cả khi đã phát hiện ra quy luật tự nhiên của sự vận động của nó … cũng không thể nào nhẩy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ nhưng giai đoạn đó, song C.Mác cũng cho rằng “nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những cơn đau đẻ”. Điều đó có nghĩa rằng quá trình lịch sử tự nhiên chẳng những có thể diễn ra tuần tự từ hình thaí kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội nào đó, trong những điều kiện khách quan và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Những tư tưởng cơ bản đó trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã hội chính là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là phù hợp với quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc ta, của thời đại.

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hoá hiện vẫn đang được coi là phương hướng chủ đạo, phải trải qua của các nước đang phát triển. Đối với nước ta, khi những tư tưởng cơ bản trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã hội được nhận thức lại một cách khoa học và sâu sắc với tư cách là cơ sở lý luận của công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước thì một mặt, chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để nhanh chóng tạo ra lực lượng sản xuất, hiện đại cho chế độ xã hội mới. ở đây “công nghiệp hoá thực chất là xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với căn bản công nghiệp, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới.

Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và theo định hướng XHCN. Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời, chúng luôn tác động, thúc đẩy hỗ trợ cùng phát triển. Bởi lẽ “nếu công nghiệp hoá – hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”.

Như vậy, từ quan điểm của C.Mác về kết cấu chính thể của hình thái kinh tế – xã hội với tư cách là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cơ sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở lý luận để khẳng định rằng: sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để tác động sâu xa đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội để xây dựng hình thái kinh tế xã hội ở nước ta. Nhiệm vụ lớn lao mà cuộc cách mạng đó phải thực hiện là “tạo ra những điều kiện thiết yếu về vật chất – kỹ thuật, về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm góp phần huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động, làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái”.

a. Tổng kết, hệ thống, khái quát hoá của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá:

– Như ta đã biết từ khi chủ nghĩa xã hội đuợc xây dựng tất cả các nước XHCN đều thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung. Cơ chế này duy trì một thời gian khá dài và được xem là đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa xã hội. Thật sự thì không phải như vậy. Nền kinh tế tập chung không phải là sản phẩm riêng biệt của Chủ nghĩa xã hội, cũng nưh nền kinh tế thị trường không phải là duy nhất được thiết lập trong chủ nghĩa tư bản. Nền kinh tế tập chung đã được thiết lập trong chủ nghĩa tư bản được các nươc stư bản áp dụng từ trước khi nhiều nước xác lập XHCN nhưng họ đã xoá bỏ nó để chuyển sang cơ chế thị trường. Nhưng công bằng mà nói cũng chưa phải là cái duy nhất đảm bảo sự t ăng trưởng và phát triển xã hội theo quan điểm Mác – Lênin thì xã hội cộng sản là một xã hội tiên tiến, con người có thể “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” nhưng thực tế trong chủ nghiã xã hội của cải xã hội chưa đạt đến mức hết sức phong phú, dư thừa và cả trong giai đoạn tiếp theo, do vậy trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì tồn tại nền sản xuất kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường bước phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá là lẽ đương nhiên.
Những năm vừa qua với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường Việt Nam đã làm thế giới ngỡ ngàng, ca ngợi. Từ chỗ chúng ta còn xa lạ, nay đã hội nhập được với nền kinh tế tiên tiến hiện đại. Tất cả những thành tựu kinh tế mà chúng ta đã đạt được đã nói lên công cuộc đổi mới ở nước ta là cuộc cách mạng thật sự.

– Đổi mới ở nước ta không chỉ giới hạn về lĩnh vực kinh tế mà còn tạo điều kiện cho chúng ta nhận thức mới chính xác hơn về vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa Mác – lênin tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trước đây ta nhận thức chưa đúng, hơn thế ta còn nhận thức sai lầm nghiêm trọng đầy ảo tưởng duy ý chí về mình. Chúng ta đã nhận thức lại và đánh giá đúng sự thật. Nhờ đổi mới tư duy nhiều ván đề về công nghiệp hoá – hiện đại hoá được nhận thức lại.

– Bảo vệ vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là mục tiêu nhiệm vụ không kém phần quan trọng, làm sang tỏ thêm ý nghĩa vai trò cách mạng của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá của nước ta hiện nay. Chủ nghĩa Mác – lênin là khoa học và là một trong những đỉnh cao của trí tuệ loài người, không có ai có thể phủ nhận rằng khi lý luận đó được quán triệt và vận dụng đúng đắn thì nhân dân thế giới đã làm lên biến cố lịch sử vĩ đại do vậy Đảng ta đã tuyên bó lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động cách mạng.

– Các nước tư bản chủ nghiã đã thực hiện thành cường quốc về kinh tế, nhưng họ lại bất lực trước vấn đề giải quyết quanhệ xã hội họ mang tư tưởng bảo thủ lấy hiện tượng che lấp bản chất, công cuộc đổi mới mục đích là vì kinh tế chứ không phải là vì con người. Một xã hội vẫn tồn tại sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là chính thì con người chỉ là kẻ làm thuê luôn bị bóc lột sức lao động của mình không hưởng quyền của con người. Hiện nay Đảng ta đã đi đôi với công nghiệp hoá đất nước phải thực hiện mục tiêu “ổn định chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”.

– Một mục tiêu cực kỳ quan trọng thể hiện rõ tính cách mạng của công nghiệp hoá Việt Nam đó là phấn đấu xây dựng nước ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá – hiện đại hoá “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”.

b. Đường lối chỉ đạo:

– Nội dung của công nghiệp hoá ở nước ta bao gồm 2 nội dung chủ yếu là trang bị kỹ thuật và công nghiệp hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý.

– Các Mác nhận xét khoa học là động lực của công nghiệp hoá – hiện đại hoá”. Vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, hội nghị TW II một lần nữa nhấn mạnh “cùng với giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, là nhân tố quyết định công nghiệp hoá – hiện đại hoá”

– Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá là một hoạt động có ý thức, có kế hoạch và do đó tất yếu phải dựa vào nhân tố dân số và nhu cầu, điều kiện tự nhiên và tiềm tàng của đất nước, điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất khoa học kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn tích lũy quan hệ kinh tế quốc tế. Theo qui luật của vận động thì đấu tranh là cha đẻ của vận động. ở nước ta là một nước có nền kinh tế thấp thì việc tồn tại 5 thành phần kinh tế là tất yếu. 5 thành phần đó là: kinh tế nhà nước (quốc doanh), kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo dưới sự lãnh đạo của Nhà nước. Việc tồn tại 5 thành phần kinh tế là khách quan nhưng kiểm soát được nhằm đảm bảo các qui luật của cạnh tranh (có cạnh tranh mới có phát triển) của nội bộ ngành kinh tế theo hướng XHCN.
Tổng kết: Nhận thức sai lầm về chủ nghĩa xã hội và về thời kỳ quá độ, từ nhận thức trên nền trong thực tiễn không thể dẫn đến những sai lầm nôn nóng trong cách làm và bước đi, thiếu kết hợp hài hoà quá trình vận dụng quy luật tuần tự với qui luật nhảy vọt, để tìm ra mô hình phát triển nhanh, đưa nước ta phát triển theo định hướng đã định.

– Áp dụng một cách máy móc mô hình “kinh tế chỉ huy” và theo đó là cơ chế quan liêu bao cấp mang nặng tính hiện vật kéo dài, chính mô hình và cơ chế này đã vi phạm nghiêm trọng qui luật lợi ích của người lao động và của chủ thể kinh tế. Vô tình hay hữu ý đã xoá đi những mặt tích cực của kinh tế thị trường, làm kìm hãm sự phát triển khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất.

2. Thực tiễn:

A. Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy mọi quá trình công nghiệp hoá thành công cho đến nay đều đòi hỏi phải có các điều kiện sau đây:

+ Thứ nhất là thị trường. Lịch sử nhân loại chưa có một quốc gia nào khi công nghiệp hoá mà không cần đến thị trường, vốn, công nghệ, lao động, tài nguyên. Các chính sách tự do hoá thương mại, giá cả, tín dụng … Là cực kỳ quan trọng trong việc mở rộng thị trường trong nước còn thị trường ngoài nước, trong thời kỳ trước các quốc gia đã phải dùng chiến tranh để phân chia thị trường thế giới. Ngày nay người ta không còn chiến tranh mà vẫn mở rộng thị trường thông qua thoả thuận ký kết các hiệp nghị thương mại giữa các quốc gia trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Đối với Việt Nam thì thị trường có ý nghĩa rất quan trọng, đồng thời Việt Nam là thị trường hấp dẫn cho việc đầu tư nước ngoài.

+ Nguồn nhân lực: Đây là một trong những hạt nhân của lực lượng sản xuất. Thực tế ở các nước đã tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá cho thấy là việc xác lập một cơ cấu nguồn nhân lực thích hợp, đầu tư tài chính đủ cho giáo dục và y tế, thực hiện cơ chế thị trường trong việc sử dụng nhân lực kết hợp với chính sách ưu đãi.
Là nguồn gốc cơ bản của thành công. Đối với Việt Nam không còn con đường nào khác là hợp tác trung tâm kỹ thuật có nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời đẩy mạnh giáo dục đào tào.

+ Thứ ba là công nghệ và vốn: Để phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất của XHCN thì không thể không cần đến công nghệ và vốn. Thực tế cho thấy các nước đi trước phát triển công nghiệp hoá – hiện đại hoá đều dựa chủ yếu vào phát triển công nghệ và vốn. Đối với Việt Nam thì thu hút vốn và công nghệ tiên tiến của nước ngoài là cần thiết đồng thời có chính sách thu hút vốn trong nước và phát triển công nghệ với 3 đặc trưng chủ yếu trên mô hình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt nam phải tận dụng tối đa lợi thế của nền kinh tế phát triển cao hơn, có chính sách cụ thể đúng đắn để điều chỉnh sự vận động của các nhân tố trên phục vụ đắc lực vào thực tiễn.
C. Những thuận lợi khó khăn

* Những khó khăn:

Tiến hành CNH – HĐH theo định hướng XHCN là mục tiêu con đường phát triển lớn nhất quan trọng nhất của nước ta trong giai đoạn tới. Trong thời kỳ đầu của CNH – HĐH chúng ta còn đứng trước nhiều điều mới mẻ, nhận thức về CNH, HĐH còn hạn chế bởi nước ta vừa thoát khỏi hai cuộc chiến tranh tàn khốc, điểm xuất phát kinh tế thấp từ một cơ cấu kinh tế mất cân đối và kết cấu hạ tầng thấp kém. Vốn là chìa khoá là nhân tố quan trọng để thực hiện CNH, HĐH thế nhưng khả năng huy động vốn cho quá trình này rất bị hạn chế. Hiện nay trong tổng số vốn dùng để đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước thì vốn trong nước chỉ có 25% còn 75% là vay nợ nước ngoài. Quản lý và sử dụng kém hiệu quả cùng với tham nhũng sẽ dẫn đến nguy cơ gánh nặng nợ nần lớn và khả năng trả nợ khó khăn.

Tiếp đó, bối cảnh quốc tế và khu vực vừa tạo ra thời cơ thuận lợi vừa đặt ra những thử thách nguy cơ. Đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt (Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VII, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, Tr 79). Nước ta lại nằm ở khu vực châu á Thái Bình Dương và Biển Đông, nơi đang có những diễn biến phức tạp, nơi đang tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định.
Dấu ấn của cơ chế quản lý cũ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp chưa xóa bỏ hết cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước còn đang trong quá trình hình thành. Quản lý kinh tế xã hội còn nhiều yếu kém, thủ tục hành chính rườm rà, bộ máy hành chính cồng kềnh kém hiệu quả… có ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình CNH, HĐH đến việc thu hút đầu tư chuyển giao công nghệ… Đặc biệt tệ quan liêu tham nhũng và suy thoái về phẩm chấ, đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên… làm cho các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch dẫn tới chệch hướng đó cũng là mảnh đất thuật lợi cho diễn biến hoà bình.

* Những thuận lợi.

Bước vào thời kỳ CNH, HĐH nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi.
Trên thế giới cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển vào trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội. Đây là một thời cơ thuận lợi cho phép chúng ta có thể khai thác được những yếu tố nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ thị trường…) và những nguồn lực bên trong của đất nước có hiệu quả, thực hiện CNH, HĐH rút ngắn, kết hợp các bước đi tuần tự với nhảy vọt, vừa tăng tốc, vừa chạy trước, đón đầu.

Nhà nước tiến hành CNH, HĐH đi sau chúng ta có lợi thế của con người đi sau. Chúng ta có thể tiến hành được những thất bại mà những nước đi trước gặp phải. Lợi dụng cơ hội là đi thẳng vào công nghệ tiên tiến thích hợp với Việt Nam, đạt được sự phát triển nhanh bền vững.
Đất nước sau 10 năm đổi mới đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội nhiều tiền để cần thiết cho CNH, HĐH đã được tạo ra, chúng ta đã và đang có những thế và lực mới, cả bên trong và bên ngoài để bước vào một thời kỳ phát triển mới.

Nước ta có vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc phát triển và giao lưu kinh tế. Nằm trên bán đảo Đông Dương gần trung tâm Đông Nam á Viẹt Nam là cửa ngõ đầu mối giao thông của các tuyến đường quốc tế quan trọng, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động và được coi là khu vực phát triển năng động nhất hiện nay. Do đó, chúng ta có điều kiện để mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại có điều kiện thu nhập và xử lý thông tin nhanh chóng.
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN ngày 28/7/1995 và Mỹ bỏ lệnh cấm vận 3/2/1994 mở ra một hướng phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta có thêm điều kiện thuận lợi để hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.

Bên cạnh đó tình hình kinh tế chính trị tự ổn định nền kinh tế hành hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nguồn lực vật chất được tăng cường mức sống nhân dân tăng nhanh rõ rệt, sản lượng lương thực thực phẩm đã tăng lên đáng kể; nếu như 1996 nước ta xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới thì đến cuối 1997 nước ta đã vượt lên đứng thứ 2 trên thế giới xuất khẩu gạo sau Mỹ, nền kinh tế bắt đầu có tích luỹ trong năm 1991 – 1995 nhịp độ tăng hàng năm về GNP đạt 8,2% vốn đầu tư toàn xã hội năm 1990 chiếm 18,8% GNP đến 1995 tăng lên 27,4% GNP. Sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước có nhiều tiến bộ, trình độ dân trí được nâng lên nhờ đó có thể tiếp thu dễ dàng những tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho quá trình CNH, HĐH.

Ngoài ra nước ta còn có những thuận lợi quan trọng khác và nó được coi là nguồn nội lực không thể thiếu được cho quá trình CNH, HĐH: có chế độ chính sách ưu việt phù hợp cho từng ngành nghề, nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú.
Như vậy qua phân tích trên ta thấy với những tiềm năng trên cộng với đường lối chính sách đúng đắn chúng ta có thể tranh thủ được thời cơ thuận lợi vượt qua những thử thách, thực hiện thắng lợi cộng với đường lối chính sách đúng đắn chúng ta có thể tranh thủ được thời cơ thuận lợi vượt qua những thử thách, thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH đất nước thành một nước công nghiệp vào năm 2000.
Căn cứ vào sự đổi mới thực sự toàn diện về lý luận và thực tiễn của quá trình CNH ở nước ta chia làm hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn từ 1960 – 1980 và giai đoạn 1986 đến nay

* Giai đoạn 1960 – 1986:

Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là thực hiện một chiến lược nhất quán được xác định từ Đại hội Đảng lao động Việt Nam lần thứ III (9/1960). Tại đại hội này Đảng ta khẳng định: Nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là công nghiệp hoá XHCN, mà vấn đề mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Chủ trương về công nghiệp hoá là: Xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm nền tảng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ… Thực hiện chiến lược này, chúng ta đã tập trung một nguồn lực trong nước và nước ngoài, tranh thủ viện trợ, giúp đỡ của các nước XHCN đầu tư trang bị lại và xây dựng mới hàng loạt các cơ sở sản xuất và các ngành kinh tế. Chỉ trong một thời gian ngắn chúng ta đã hình thành một cơ cấu kinh tế đa ngành trong đó các ngành quan trọng như cơ khí, luyện kim, khai thác than…
Cơ cấukinh tế đã có sự cấu trúc lại, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp trong tổng sản phẩm, xã hội không ngừng tăng từ 31,7%(1960) lên 42,7%(1978). Nông nghiệp giảm từ 31,5% xuống 29,3%khối lượng vốn đầu tư và giá trị tài sản cố định trong các ngành tăng nhanh đặc biệt là công nghiệp nặng.

Sau 1975 tình hình trong và ngoài nước có nhiều thay đổi lớn. Tốc độ tăng bình quân về sản phẩm xã hội chỉ đạt bình quân 1,4, hội chi ngân sách 2,1 lần trong thời kỳ 1976 – 1980.

Đại hội Đảng lần thứ V khẳng định: Nội dung của công nghiệp hoá XHCN trong 5 năm (1981 – 1985) và những năm 80 ta tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng. Nhờ kết quả của sự điều chỉnh cơ cấu sản xuất, đầu tư này đã đạt được những tiến độ đáng kể. Tốc độ tăng bình quân tổng sản phẩm xã hội 7,3% thu nhập quốc dân tăng 6,4%, công nghiệp 9,5% nông nghiệp 5,1%. Song việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất diễn ra chậm, ứng dụng khoa học kỹ thuật và mức độ đổi mới trang bị kỹ thuật thấp, chậm. Nền kinh tế vẫn khủng hoảng tình hình kinh tế vẫn tiếp tục khó khăn.

* Giai đoạn từ 1956 đến nay

Đây là thời kỳ đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ cả về quan điểm, nhận thức cũng như tổ chức chủ đạo thực hiện CNH đất nước. Đại hộiVI khẳng định: “tiếp tục xây dựng tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN trong chặng đường tiếp theo” và trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986 – 1990, phải thực sự tập trung sức người sức của vào việc thực hiện cho được ba mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Sự chuyển hướng chiến lược cùng với những thay đổi trong cơ chế quản lý kinh tế đã thu được những hiệu quả đáng khích lệ. Một thành tựu khác về đổi mới kinh tế là chúng ta bước đầu hình thành một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhờ đó trong thời kỳ từ 1986 – 1990 chúng ta đã đạt được tốc độ tăng bình quân của tổng sản phẩm xã hội là 4,5% thu nhập quốc dân 3,9% giá trị sản lượng công nghiệp 3,9%, nông nghiệp 3,8% giá trị xuất khẩu 28%, nhập khẩu 8%. Một số mặt hàng xuất khẩu cơ bản được hình thành: dầu mỏ, than đá, lâm, hải sản, gạo. Lần đầu tiên sau hơn 30 năm chúng ta gần như lập được cânđối giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong tình hình nguồn viện trợ từ Liên Xô và các nước Đông Âu không còn nữa.

3. Nội dung CNH –HĐH trong những năm tới cuối thập kỷ 90.

Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình thực hiện gắn liền với những chặng đường nhất định. Trong mỗi chặng đường đó, CNH – HĐHđược tiến hành với nội dung khác nhau và tất yếu được hoàn thành với tốc độ không giống nhau.

a. Đặc biệt coi trọng CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn.

– Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư, nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và liên kết với công nghiệp ở đô thị.
– Thực hiện thủy lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá và hóa học hoá.
– Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
– Hoàn thành cơ bản việc giao đất, giao rừng cho hộ nông dân, điều chỉnh việc phân bổ vốn và huy động thêm nhiều nguồn vốn cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn.

b. Phát triển công nghiệp.

Ưu tiên các ngành chế biến lương thực – thực phẩm sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, phát triển có chọn lọc, một số cơ sở công nghiệp nặng như: năng lượng, nhiên liệu vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa tàu thủy, hoá chất.

c. Xây dựng kết cấu hạ tầng.

– Khắc phục tình trạng xuống cấp của hệ thống giao thông hiện có bằng cách khôi phục nâng cấp và mở rộng những tuyến giao thông trọng yếu. Mở thêm đường đến các vùng sâu, vùng xa cải tạo, nâng cấp một số cảng sông, cảng biển, sân bay xây dựng dần cảng biển nước sâu.
– Tiếp tục phát triển và hiện đại hoá mạng thông tin liên lạc quốc gia, mở rọng mạng lưới điện đáp ứng nhu cầu và cung cấp điện ổn định. Cải thiện việc cấp thoát nước ở đô thị, thêm nguồn nước sạch cho nông thôn.

d. Phát triển nhanh du lịch

Các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông, thương mại, vận tải và các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân. Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực.

e. Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ.

– Chuyển dịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng đều phát triển.
Đầu tư ở mức cần thiết cho các vùng kinh tế trọng điểm để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Chúng ta cần làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng, coi đây là một trọng tâm chỉ đạo của các ngành, các cấp. Hình thành mạng lưới đô thị hợp lý, tránh không tạo thành các siêu đô thị . Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị.

g.Nội dung cuối cùng là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

– Đó là việc đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và tình trạng hàng xuất khẩu. Nâng cao tỷ trọng phần giá trị gia tăng trong quá trình hàng nhập khẩu. Giảm dần nhập siêu, có chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước.
– Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hộinhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta với đối tác, tăng dự trữ ngoại tệ…

C. Phương hướng nội dung, mục tiêu của công nghiệp hoá
Phương hướng hiện nay là công nghiệp hoá theo hướng hiện đại hoá và công nghiệp hoá phát triển theo mô hình công nghiệp hoá rút ngắn. Mô hình này thừa kế tất cả ưu việt của mô hình công nghiệp hoá ở các nước trên thế giới đồng thơì tính đến đặc điểm cụ thể t hiên nhiên của con người Việt Nam.
Cho đến nay Việt nam sau 10 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, tại Đại hội Đảng VIII Đảng ta đã khẳng định “nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép nước ta chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.