Mua bán đối lưu là gì?

Mua bán đối lưu có thể được coi là một phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế, nó cũng là một dạng thức thâm nhập thị trường đặc thù. Buôn bán đối lưu thường được sử dụng trong các giao dịch mua bán với chính phủ của các nước đang phát triển. Hàng hóa và dịch vụ được dùng để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ khác trong trường  hợp  việc  thanh  toán  bằng  các  phương  thức  truyền  thống  khó  khăn,  tốn kém,hoặc không thực hiện được. Có nhiều hình thức buôn bán đối lưu:

Ví dụ: Caterpillar xuất khẩu máy xúc sang Venezuela. Đổi lại, chính phủ Venezuela trả cho Caterpillar 350.000 tấn quặng sắt. Thỉnh thoảng các nước Trung Đông cũng trả tiền hàng nhập khẩu bằng dầu thô, ví dụ như khi Ả Rập Saudi mua máy bay phản lực của Hoa Kỳ. Phương thức này còn được gọi là mua bán hai chiều hoặc mua bán đối ứng, nguyên tắc hoạt động của nó là “ Tôi sẽ mua hàng hóa của anh nếu anh mua hàng của tôi”. Ngoài người mua và người bán, trong mua bán đối lưu còn có sự tham gia của nhà môi giới. Các giao dịch nhiều bên cũng có thể phải mất nhiều năm mới hoàn thành. Như bạn có thể thấy, các giao dịch mua bán đối lưu ngày càng có xu hướng phức tạp hơn nhiều so với phương thức tiền đổi hàng truyền thống.

Động lực của mua bán đối lưu

Rất nhiều công ty đa quốc gia đã tiến hành mua bán đối lưu từ những năm 1960, không chỉ các công ty ở những nước đang phát triển – những nước thường xuyên thiếu ngoại tệ mạnh mà cả các công ty ở những nước công nghiệp phát triển. Rất khó thống kê chính xác phạm vi của mua bán đối lưu, một số nhà nghiên cứu ước đoán nó chiếm khoảng hơn 1/3 doanh số mua bán của thế giới.

Mua bán đối lưu cũng rất phổ biến trong các dự án mua bán lớn của chính phủ. Ví dụ, chính phủ liên bang  Áo  đã phải mua hàng hoá trị giá hơn 25 triệu đ ôla Áo bằng phương thức mua bán đối lưu. Ở Hàn Quốc,  mua bán đối lưu chiếm hơn một triệu USD trong chi tiêu cho quốc phòng và viễn thông của chính phủ. Ở châu Á, Indonesia đi tiên phong trong việc sử dụng buôn bán đối lưu cho các chương trình chi tiêu công cộng qui mô lớn. Các nước Đông Âu và Nga đã có thời giao dịch thông qua nghiệp vụ hàng đổi hàng và mua bán đối lưu.

Mua bán đối lưu ra đời để khắc phục hai vấn đề cơ bản. Thứ nhất đó là tình trạng thiếu tiền tệ mạnh thường xuyên xảy ra ở các nước đang phát triển. Thứ hai là các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển thiếu các chuyên gia marketing có đủ trình độ và sự am hiểu về thị trường các quốc gia phương Tây. Mua bán đối lưu  giúp các doanh nghiệp này tiếp cận những thị trường mà họ không thể tiếp cận được, đồng thời tạo thêm nguồn tiền tệ mạnh cho đất nước.

Các loại hình trong mua bán đối lưu

Có bốn loại mua bán đối lưu chủ yếu: hàng đổi hàng, nhiệp vụ bù trừ, nhiệp vụ mua đối lưu và nghiệp vụ mua lại.

  • Hàng đổi hàng (Barter)  là loại hình mua bán lâu đời nhất. Trong loại hình này hàng hóa được trao đổi trực tiếp mà không dùng tiền để thanh toán. Ngày nay mặc dù ít thông dụng nhưng hàng đổi hàng vẫn được sử dụng (cả trong thương mại nội địa) khi mua bán trực tiếp, giao dịch một lần. So với các loại hình khác trong mua bán đối lưu, hàng đổi hàng chỉ là một hợp đồng đơn nhất (các loại hình khác có từ hai loại hợp đồng trở lên), hoạt động mua bán diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (các loại khác có thể kéo dài vài năm) và ít phức tạp (các loại khác thường cần đến các cam kết quản lý và các nguồn lực phục vụ việc mua bán đối lưu).
  • Nghiệp vụ bù trừ (Compensation deals) là một loại hình mua bán có thanh toán bằng cả hàng hóa và tiền. Ví dụ, một công ty bán trang thiết bị cho chính phủ Braxin và được thanh toán một nửa bằng tiền tệ mạnh, một nửa bằng hàng hóa.
  • Mua đối lưu (Counter Purchase): hay còn được gọi là mua bán giáp lưng hoặc giao dịch bù trừ, bao gồm hai hợp đồng riêng biệt. Trong hợp đồng thứ nhất, người bán đồng ý bán hàng ở một mức giá nhất định, sau đó nhận tiền thanh toán từ người mua. Tuy nhiên, hợp đồng thứ nhất này phụ thuộc vào hợp đồng thứ hai, trong đó người bán phải đồng ý mua hàng từ người mua với trị giá bằng toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định trị giá của số tiền thu được từ hợp đồng thứ nhất. Nếu sự trao đổi không ngang bằng về mặt giá trị thì sẽ thanh toán từng phần bằng tiền mặt. Hoặc là người mua có thể yêu cầu người bán sản xuất và lắp ráp một lượng hàng hóa nhất định trong tổng hàng hóa xuất khẩu tại nước người mua. Mua đối lưu được thực hiện chủ yếu trong ngành công nghiệp quốc phòng, chính phủ sẽ mua các loại vũ khí quân sụ hạng nặng từ các công ty thầu quốc phòng và yêu cầu các công ty này mua một số mặt hàng hoặc tạo thêm công ăn việc làm cho quốc gia mình.
  • Nghiệp vụ mua lại (Buy back agreement): theo đó người mua đồng ý cung cấp công nghệ hoặc trang  thiết bị để xây dựng các cơ sở sản xuất và nhận thanh toán dưới dạng sản phẩm do cơ sở đó sản xuất. Ví dụ, người bán sẽ thiết kế và xây dựng một nhà máy ở nước người mua để sản xuất máy kéo. Người bán này được nhận lại các máy kéo hoàn chỉnh do nhà máy đó sản xuất, sau đó bán lại trên thị trường thế giới. Về bản chất, các hàng hóa và dịch vụ được mua bán trong giao dịch gốc đã sinh ra các hàng hóa và dịch vụ khác, chúng đóng vai trò như một khoản thanh toán cho các hàng hóa và dịch vụ được mua bán trong giao dịch gốc. Nghiệp vụ mua lại sản phẩm có thể phải mất vài năm mới hoàn thành do đó nó chứa đựng rủi ro khá lớn.

Những rủi ro trong mua bán đối lưu

Mua bán đối lưu tiềm ẩn nhiều rủi ro:

  • Thứ nhất, hàng hóa mà người mua bán cho nhà xuất khẩu có thể có chất lượng kém, ít có khả năng bán được trên thị trường quốc tế.
  • Thứ hai, rất khó để định giá thị trường cho hàng hóa người mua cung cấp bởi vì chúng đa phần đều là  những sản phẩm kém chất lượng. Thêm vào đó không phải lúc nào người mua cũng có cơ hội để kiểm tra hàng hóa hay có thời gian để tiến hành phân tích thị trường.
  • Thứ ba, mua bán đối lưu không hiệu quả vì cả hai bên đều độn giá hàng hóa của mình. Người mua có thể gặp khó khăn lớn khi bán lại số hàng mà họ được trả thay tiền thanh toán. Như trường hợp công ty General Electric (GE) thỏa thuận trả cho công ty môi giới tiền hoa hồng để họ bán số hàng mà GE được trả trong mua bán đối lưu. Kết cục là GE đã cộng thêm chi phí bán hàng vào giá bán cho người  mua. Đến lượt mình, do phán đoán được hành động độn giá của GE, người mua lại chuyển khoản chi phí phụ đó sang khách hàng của mình. Do vậy, cuối cùng giao dịch giữa GE và bên mua không mấy hiệu quả.
  • Thứ tư, mua bán đối ứng là những giao dịch rất phức tạp, phiền hà và tốn thời gian. Kết quả là tỷ lệ các giao dịch mua bán đối ứng mà các doanh nghiệp có thể hoàn thành là tương đối thấp.
  • Thứ năm, mua bán đối ứng thường rất quan liêu do chịu ảnh hưởng của các luật lệ mà chính phủ ban hành. Các luật lệ đó thực sự rất phiền hà và thường làm nản lòng các doanh nghiệp xuất khẩu.

Tác dụng của mua bán đối lưu

Mặc dù hầu hết các doanh nghiệp đều không muốn buôn bán đối lưu nhưng có năm nguyên nhân khiến họ phải cân nhắc phương thức mua bán này.

  • Có những trường hợp không có sự lựa chọn mua bán nào khác ngoài mua bán đối lưu.
  • Mua bán đối lưu giúp doanh nghiệp thâm nhập thị trường mới và tạo dựng được các mối quan hệ mới với khách hàng. Ví dụ, trong ngành công nghiệp khai thác mỏ, một số loại khoáng sản chỉ có ở các nước đang phát triển. Và chỉ có các doanh nghiệp sẵn sàng mua bán đối lưu mới có quyền khai thác mỏ ở những khu vực này.
  • Nhiều công ty dùng mua bán đối ứng một cách sáng tạo như là một cách để phát triển những nguồn cung mới. Nếu một công ty có thể bảo vệ sản phẩm mà nó cung cấp, mua bán đối ứng sẽ trở nên hấp dẫn hơn.Doanh nghiệp có thể tìm thấy những nhà cung cấp mới trong quá trình đó.
  • Các doanh nghiệp có thể sử dụng mua bán đối lưu như một cách để kiếm lại lợi nhuận đã không còn trong những tài khoản bị phong tỏa của chi nhánh nước ngoài. Nếu không thể tìm lại lợi nhuận của mình, doanh nghiệp sẽ tìm kiếm thị trường địa phương cho những sản phẩm mà nó có thể xuất khẩu thành công trên thị trường thế giới. Văn phòng chi nhánh Motor Trading cũ của General Motors được thành lập để thực hiện các khoản tín dụng thương mại, tức là bán các sản phẩm xe cộ của nó nhằm dóng góp vào kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của đất nước mình.
  • Xét về tính chất mạo hiểm và phiền hà của hoạt động mua bán đối lưu, các doanh nghiệp có thể đạt được thành công trong việc đào tạo các nhà quản lý có thể chịu đựng được áp lực tâm lí trong thương mại. Các công ty đa quốc gia như GM, GE, Siemens, Toshiba, Caterpillar… đã thiết lập các  bộ phận riêng biệt để làm cho các nhà quản lý toàn cầu quen với áp lực tinh thần trong buôn bán, bằng cách đó họ trở nên có khả năng kinh doanh, sáng tạo, có mối quan hệ chính trị và hiều biết nhiều về các loại hàng hóa cũng như các sản phẩm có thể bán được. Các doanh nghiệp này nhận thấy rõ giá trị của những điều đó đối với hoạt động kinh doanh quốc tế và luôn cố gắng để thúc đẩy kinh doanh  bằng cách để các nhà quản lý tham gia vào mua bán đối lưu. Các kỹ năng mà các nhà quản lý có được có ý nghĩa lớn cho hoạt động kinh doanh quốc tế, không chỉ cho buôn bán đối lưu mà còn cho rất nhiều giao dịch qua biên giới khác.