Mức độ hội nhập kinh tế thế giới

Các nhà kinh tế đã xác định 5 mức độ hội nhập kinh tế  (liên kết kinh tế lớn). Đó là Khu vực mậu dịch tự do, Liên minh thuế quan, Thị trường chung, Liên minh kinh tế và Liên minh chính trị.

Khu vực mậu dịch tự do, đây là một liên minh kinh tế giữa hai hay nhiều nớc nhằm mục đích tự do hoá buôn bán, biện pháp sử dụng là bãi miễn thuế giữa các nước thành viên, trong khi đó mỗi nước thành viên vẫn có biểu thuế nhập riêng áp dụng với các nước ngoài liên minh. Một số liên minh thuộc hình thức này như: EFTA ( Khu vực mậu dịch tự do Châu Âu), LAFTA (Khu vực mậu dịch tự do Châu mĩ la tinh). Nhược điểm của mô hình này là thiếu sự hợp tác giữa các nước thành viên trong việc xác định mức thuế nhập khẩu cho các nước nằm ngoài liên minh, tạo điều kiện cho các nước này có thể xuất khẩu hàng hoá vào khu vực mậu dịch tự do thông qua nước có mức thuế nhập khẩu thấp nhất.

Liên minh thuế quan là một hình thức mở rộng hơn so với khu vực mậudịch tự do trong đó các nước thành viên cùng thiết lập một biểu thuế quan chung với phần còn lại của thế giới. Ưu điểm của mô hình này đồng đều các quy định thương mại và tạo nên một rào cản chung với các nước không phải là thành viên. Liên minh thuế quan Benelux là liên minh cổ nhất thuộc hình thức này trên thế giới.

Thị trường chung là một hình thức liên minh phức tạp và ở trình độ cao hơn cả Liên minh thuế quan và Khu vực mậu dịch tự do. Trong Thi trường chung, các nước thành viên bãi bỏ mọi thuế quan và biện pháp bảo hộ khác bên cạnh đó cho phép di chuyển các nhân tố của sản xuất , dịch vụ, nguyên liệu, lao động và vốn trong liên minh. Do đó, luật pháp và luật lao động được tiêu chuẩn hoá để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng. Đối với các nớc không phải thành viên thì mức thuế nhập khẩu se ngay lập tức được xác định nh mức thuế của các nước thành viên, để xâm nhập Thị trường chung cần lưu ý tới rào cản phi thuế quan. Thông thường nhà xuất khẩu từ bên ngoài sẽ xuất khẩu vào nước có rào cản phi thuế quan thấp nhất vì hàng hoá có thể di chuyển tự do một khi nó đã vào đến Thị trường  chung. Một ví dụ điển hình cho hình thức này là Thị trường chung Châu Âu được hình thành năm 1957 theo Hiệp ớc Rome ban đầu gồm 6 thành viên.

Sự liên kết giữa các nước còn tăng thêm với hình thức Liên minh kinh tế vì nó thực hiện hài hoà chính sách tài chính, tiền tệ giữa các nước thành viên. Nếu coi mỗi bang của Mĩ là một nước độc lập thì Liên bang Mĩ là một ví dụ gần gũi nhất của Liên minh kinh tế.

Liên minh chính trị là hình thức cuối cùng của Liên minh kinh tế vì kinh tế và chính trị luôn gắn liền với nhau. Hiệp ước liên kết giữa các quốc gia bắt đầu việc xác định một chính sách kinh tế và chính trị chung cho liên minh. Cộng đồng chung Châu Âu EC đang đi theo hướng này, điều đó lý giải vì sao nó đổi tên thành Cộng đồng kinh tế Châu Âu EEC.COMECON hay CMEA (Hội đồng tương trợ kinh tế) gồm Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu, về cơ bản là một liên minh thuế quan những nó có thể trở thành Liên minh chính trị nếu Xô viết không tan rã.

Các liên minh kinh tế theo khu vực không phải lúc nào cũng nhất thiết thuộc 1 trong 5 loại này. ASEAN bao gồm hơn 250 triệu dân nằm trong khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới….

Những mốc sự kiện quan trọng của Cộng đồng chung Châu Âu

Năm 1950, Ngoại trởng Pháp, ngài Robert Schuman, đề xuất mô hình Cộng đồng Châu Âu đầu tiên (giải quyết các vấn đề than, thép) vào ngày 9 tháng 5. Ngày này đợc coi là ngày khai sinh chính thức của EU.

Năm 1951, Hiệp ớc Pari đợc kí kết ngày 18 tháng 4 thiết lập nên Cộng đồng than thép Châu Âu.

Năm 1957, Kí kết Hiệp ớc Rome ngày 25 tháng 3 thiết lập Cộng đồng năng lợng nguyên tử Châu Âu và Thị trờng chung Châu Âu.

Năm 1958, thành lập các uỷ ban và hội đồng quản lý thị trờng chung Châu Âu.

Năm 1961, cùng với Hy lạp kí kết hiệp định liên kết.

Năm 1962, ra đời chính sách nông nghiệp chung dựa trên từng thị trờng và mức giá chung cho các sản phẩm nông nghiệp.

Năm 1964, thiết lập thị trờng nông nghiệp chung và hỗ trợ các tổ chức marketing, thống nhất giá ngũ cốc có hiệu lực vào năm 1967.

Năm 1967, Hiệp ớc về một Cộng đồng chung Châu Âu và một hội đồng chung Châu Âu có hiệu lực.

Năm 1972, để kiểm soát biến động tỉ giá trao đổi lộn xộn tại các nớc thành viên, Uỷ ban Châu Âu đề ra pham vi biến động 2,25% để duy trì giá trị các đồng tiền một cách tơng đối.

Năm 1973, sát nhập thêm Đan Mạch, Ai-len và Anh nâng số thành viên của EC lên chín,

Năm 1974, thành lập Hôi đồng Châu Âu, quyết định bầu cử Nghị viện bằng bầu cử trực tiếp, phổ thông.

Năm 1975, EU kí kết Hiệp định Lome vói 46 nớc Châu phi, vùng biển Carlbean, Thái Bình Dơng để tăng cờng liên kết thơng mại bằng cách cho các này tự do tiếp cận thị trờng của EU và giành đảm bảo ổn định cho 36 mặt hàng từ các quốc gia này.

Năm 1979, Hội đồng Châu Âu nhóm họp ngày 9 & 10 tháng 3 quyết định đa Hệ thống tiền tệ Châu Âu vào hoạt động.

Năm 1981, Hy Lạp trở thành thành viên thứ 10 của EU.

Năm 1984, Hiệp định Lome III đợc kí kết với 65 nớc ngoài EU tham gia.

Năm 1986, kết nạp thêm Bồ Đào Nha và Tây Ba Nha.

Người ta nghi ngờ về những hình thức hội nhập kinh tế và hiệp hội chính trị thuần tuý có thể trở thành hiện thực. Ngay cả khi nó xảy ra thì cũng không thể kéo dài lâu bởi vì cuối cùng thì các quốc gia khác nhau đều có những mục tiêu và tỉ lệ lạm phát khác nhau. Quan trọng hơn là không một quốc gia nào sẵn sàng từ bỏ chủ quyền quốc gia vì những lí do kinh tế. Khối EC, mặc dù đã có những bước tiến lớn, cũng đã gặp rắc rối do sự đối đầu giữa các quốc gia thành viên về vấn đề lợi ích quốc gia đối lập nhau.Trên cơ sở nhận thức của các thành viên EC về mức độ hợp tác và hội nhập lí tưởng, người ta thấy rằng có hai tư tưởng chính: tư tưởng của những người theo phe đa số và tư tưởng của những người theo phe thiểu số. Phe đa số bao gồm the Benelux staes, Italia, isrent, muốn cải cách ở mức tối đa. Phe thiểu số bao gồm Pháp, Tây Đức, Vương quốc Anh, là những quốc gia miễn cưỡng thực hiện những hi sinh cần thiết để đạt được mức độ hội nhập cao. Trong bất kỳ đề xuất chung nào, việc các quốc gia thành viên đều có quyền phủ quyết theo đó cần thiết phải có sự nhất trí hoàn toàn chứ không phải đa số phiếu trong quá trình ra quyết định đã làm cho vấn đề trở nên phức tạp. Vì luật lệ của EC đòi hỏi các quốc gia thành viên tham gia các cuộc thảo luận thương mại như một nhóm nên bất kỳ thành viên nào cũng có thể gây trở ngại cho việc đàm phán với các quốc gia không phải là thành viên.

Liên bang Xô viết là một minh chứng khác cho những khó khăn trong việc hình thành một hiệp hội kinh tế hay chính trị thuần tuý. Theo đuổi mục tiêu chính trị của mình, U.S.S.R mong muốn mở rộng CMEA theo hướng hội nhập kinh tế và chính trị trong khi vẫn hạn chế thương mại của khối với phương Tây. Đường lối này đòi hỏi thương mại và việc định kế hoạch kinh tế được thống nhất hơn nữa nhằm phân chia thị trường phía Đông theo các ngành kinh tế. Mặc dù liên bang Sô viết thống trị khối liên minh phía Đông, nó vẫn vấp phải khó khăn trong việc buộc các quốc gia thành viên chấp nhận các quyết định thương mại và kinh tế của khối hay những khó khăn trong việc tạo ra một chính quyền siêu quốc gia nhằm quyết định quốc gia nào sản xuất cáI gì, thương mại được tiến hành ở đâu và các nhà máy sẽ được xây dựng ở đâu?

Người nghiên cứu thị trường phải chú ý đến những ảnh hưởng của hội nhập hay hợp tác kinh tế khu vực bởi vì môi trường cạnh tranh có thể thay đổi mạnh mẽ theo thời gian. Ngay từ khi bắt đầu, các chính sách thương mại mới nói chung phải có xu hướng ưu đãi các hãng kinh doanh trong nước.Thí dụ IBM đã phảI đối mặt với những vấn đề nảy sinh ở châu Âu là nơi mà các thành viên EC đã muốn bảo hộ công nghiệp máy tính của mình.  Mặt khác, các hãng bên ngoàI có thể giành được lợi thế từ tình hình trên để vượt qua những rào cản mà một thành viên nhất định trong khối hợp tác kinh tế khu vực dựng nên. Trước thủ tục tiếp nhận phiền hà của Pháp, trước hết Nhật bản có thể chuyên chở VCRs đến Tây Đức trước khi vận chuyển tự do đến Pháp.

Vì môi trường kinh tế ưu đãi trong khu vực hợp tác mà các hãng gia tăng  mong muốn môi trường đầu vào và môi trường cạnh tranh được tăng cường hơn nữa. Dường như là các hãng trong khu vực có khả năng cạnh tranh mạnh hơn nhờ có việc mở rộng thị trường trong nước, đưa đến kết quả là những nền kinh tế tốt hơn về qui mô. Các hãng ngoài khu vực đang phải đối mặt với việc vượt qua các rào cản thương mại, có thể thông qua việc hình thành  những điều kiện sản xuất dễ dàng trong khu vực. Thí dụ isarent đã cố gắng thu hút đầu tư nước ngoài bằng cách đề cập đến việc nó là một thành viên của EC trong các chương trình quảng cáo. Hãng Nike của Mĩ đã có thể tránh được hàng rào thuế quan của EC bằng cách mở một nhà máy sản xuất ở isarent. Những nhãn mác nước ngoài mà không được hưởng những điều kiện sản xuất dễ dàng đều đã nhanh chóng nhận ra rằng sản phẩm của họ quá đắt ở EC.

Theo thời gian, khu vực sẽ tăng trưởng ngày càng nhanh nhờ những ảnh hưởng thương mại , những chính sách ưu đãi, và môi trường cạnh tranh đã tạo ra nhiều kích thích cho nền kinh tế. Tuy nhiên hợp tác kinh tế có thể đem đến thách thức cũng như cơ hội trong thị trường quốc tế. Thị trường được mở rộng mở ra nhiều tiềm năng có lợi hơn nhưng nó cũng có thể tạo ra một cảm giác về sự thông đồng (câu kết) khi các chi nhánh hay những người được cấp giấy phép được hưởng độc quyền trong những quốc gia thành viên nhất định.  Kết quả dàI hạn có thể là sự chống độc quyền khu vực trong số các hãng mới hay những quốc gia không phảI là thành viên mong muốn thương mại trong phạm vi khu vực hội nhập một cách kinh tế.

Hợp tác kinh tế hoặc thúc đẩy hoặc cản trở thương mại quốc tế, tuỳ thuộc vào kết quả hợp tác đựoc nhìn nhận như thế nào? Đối với trường hợp hình thành của EC, người ta nhận thấy một sự gia tăng đáng kể trong số lường và tầm quan trọng tương đối của thương mại trong các ngành kinh tế giữa tất cả các đối tác hơn là sự gia tăng chuyên môn hoá giữa các lĩnh vực công nghiệp.Chiều hướng trên có ảnh hưởng đến mỗi thành viên của nhóm kinh tế trong việc thay đổi từ người cung cấp có hiệu quả nhất trên thế giới cho đến người cung cấp yếu nhất trong một khu vực kinh tế đặc biệt. Tây Ban Nha vào lúc gia nhập EC buộc phảI tăng thuế quan từ 20 lên 150 % đối với thóc lúa cho gia súc được trồng ngoài khu vực kinh tế. Kết quả là hành động trên đã đình chỉ việc nhập khẩu của Tây ban nha đối với ngô và lúa miến từ Mĩ.Do đó, và ảnh hưởng thực có thể là tích cực hoặc tiêu cực.

Liệu hợp tác kinh tế có thể thúc đẩy toàn bộ môi trường thế giới vẫn còn là vấn đề phải bàn cãi. Một mặt, thương mại giữa các quốc gia thành viên tiến hành tự do hơn. Mặt khác, thương mại giữa những quốc gia trong và ngoài khu vực càng hạn chế hơn do các nước bên ngoài nhận thấy khó khăn hơn trong việc thâm nhập khu vực thương mại vì những rào cản thương mại. Nói tóm lại, người ta xem hợp tác khu vực như một dấu hiệu đầy hy vọng vào những khuyến khích thương mại mạnh mẽ hơn nữa  sẽ được thực hiện trên toàn thế giới.